QUYẾT
ĐỊNH
CỦA
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 136/2001/QĐ-TTG
NGÀY 17 THÁNG 9 NĂM 2001 PHÊ DUYỆT CHƯƠNG TR̀NH
TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI
ĐOẠN 2001-2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ
chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Nghị quyết
của Chính phủ số 06/2001/NQ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2001
tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5
năm 2001;
Theo
đề nghị của Bộ trưởng,
Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ,
QUYẾT
ĐỊNH:
Điều 1. Phê
duyệt Chương tŕnh tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.
Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể
từ ngày kư.
Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành
Quyết định này.
CHƯƠNG TR̀NH TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
(Ban hành kèm
theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg
ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính
phủ)
I. THỰC TRẠNG NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ
NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI
CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
1.
Thực trạng nền hành chính nhà nước
Thực
hiện Nghị quyết Đại hội VII, Nghị
quyết Trung ương 8 (khóa VII), Nghị quyết
Đại hội VIII, các Nghị quyết Trung ương
3, Trung ương 6 (lần 2) và Trung ương 7 (khóa VIII),
công cuộc cải cách hành chính trong 10 năm qua (1991 - 2000)
đă góp phần quan trọng vào sự nghiệp
đổi mới và phát triển kinh tế - xă hội
của đất nước. Những kết quả rơ
nét, có ư nghĩa của cải cách hành chính thời gian qua
là:
-
Chức năng và hoạt động của các cơ quan
trong hệ thống hành chính từ Chính phủ, các Bộ,
ngành trung ương đến ủy ban nhân dân các cấp
đă có nhiều thay đổi tiến bộ, tập trung
nhiều hơn vào quản lư nhà nước;
-
Từng bước đổi mới thể chế hành
chính trên các lĩnh vực, trước hết là h́nh thành
thể chế kinh tế phù hợp với yêu cầu phát
triển nền kinh tế thị trường định
hướng xă hội chủ nghĩa;
-
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và
cơ quan hành chính các cấp được sắp xếp,
điều chỉnh tinh giản hơn trước; bộ
máy hành chính từ trung ương đến cơ sở
vận hành phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn;
-
Việc quản lư, sử dụng cán bộ, công chức
được đổi mới một bước theo
các quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công
chức: từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng
ngạch, khen thưởng, kỷ luật đến
đào tạo, bồi dưỡng. Chế độ, chính
sách tiền lương bước đầu
được cải cách theo hướng tiền tệ
hóa.
Tuy
nhiên, nền hành chính nhà nước c̣n mang nặng dấu
ấn của cơ chế quản lư tập trung, quan liêu
bao cấp, chưa đáp ứng được những
yêu cầu của cơ chế quản lư mới cũng
như yêu cầu phục vụ nhân dân trong điều
kiện mới, hiệu lực, hiệu quả quản lư
chưa cao:
- Chức năng, nhiệm vụ
quản lư nhà nước của bộ máy hành chính trong
nền kinh tế thị trường định
hướng xă hội chủ nghĩa chưa
được xác định thật rơ và phù hợp;
sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp
chưa thật rành mạch;
-
Hệ thống thể chế hành chính chưa đồng
bộ, c̣n chồng chéo và thiếu thống nhất; thủ
tục hành chính trên nhiều lĩnh vực c̣n rườm
rà, phức tạp; trật tự, kỷ cương
chưa nghiêm;
-
Tổ chức bộ máy c̣n cồng kềnh, nhiều
tầng nấc; phương thức quản lư hành chính
vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa
thông suốt; chưa có những cơ chế, chính sách tài
chính thích hợp với hoạt động của các
cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ
chức làm dịch vụ công;
-
Đội ngũ cán bộ, công chức c̣n nhiều
điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách
nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính;
phong cách làm việc chậm đổi mới; tệ quan
liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục
diễn ra nghiêm trọng trong một bộ phận cán
bộ, công chức;
-
Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ
sở chưa thực sự gắn bó với dân, không
nắm chắc được những vấn đề
nổi cộm trên địa bàn, lúng túng, bị
động khi xử lư các t́nh huống phức tạp.
T́nh
h́nh trên đây do nhiều nguyên nhân gây ra. Trước
hết, nhận thức của cán bộ, công chức
về vai tṛ và chức năng quản lư của Nhà
nước, về xây dựng bộ máy nhà nước nói
chung và bộ máy hành chính nhà nước trong t́nh h́nh mới,
điều kiện mới chưa thật rơ ràng và chưa
thống nhất, c̣n nhiều vấn đề về lư
luận và thực tiễn chưa được làm sáng
tỏ, c̣n nhiều chủ trương, chính sách, quy định
của pháp luật ra đời trong cơ chế tập
trung, quan liêu bao cấp chưa được kịp
thời sửa đổi, thay thế. Thứ hai, việc triển khai các nhiệm vụ
về cải cách hành chính chưa được tiến
hành đồng bộ với đổi mới tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính
trị do Đảng lănh đạo, cải cách hành chính
chưa gắn bó chặt chẽ với đổi mới
hoạt động lập pháp và cải cách tư pháp. Thứ ba, cải cách hành chính
gặp trở ngại lớn do đụng chạm
đến lợi ích cục bộ của nhiều cơ
quan hành chính, nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy
nhà nước ở trung ương và địa
phương; ảnh hưởng của cơ chế
tập trung quan liêu, bao cấp c̣n đè nặng lên nếp
nghĩ, cách làm của không ít cán bộ, công chức;
cuộc cải cách chưa được chuẩn bị
tốt về mặt tư tưởng. Thứ tư, các chế độ, chính sách về
tổ chức và cán bộ, về tiền lương c̣n
nhiều điều chưa phù hợp, chưa tạo ra
động lực thúc đẩy công cuộc cải cách. Thứ năm là những
thiếu sót trong công tác chỉ đạo của Chính
phủ, các Bộ, ngành trung ương và ủy ban nhân dân
các địa phương trong việc tiến hành cải
cách hành chính; sự chỉ đạo thực hiện các
chủ trương đă đề ra thiếu kiên
quyết và chưa thống nhất.
2.
Bài học về cải cách hành chính
Từ thực tiễn tiến hành
cải cách hành chính 10 năm qua, trên cơ sở những
kết quả đă đạt được và những
khuyết điểm, có thể rút ra mấy bài học chung
sau đây:
- Cải cách hành chính là nhiệm
vụ rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh
vực, phải được tiến hành đồng
bộ trong tổng thể đổi mới hệ
thống chính trị, gắn với xây dựng và chỉnh
đốn Đảng, gắn với cải cách bộ máy
nhà nước nói chung;
-
Kết hợp chặt chẽ cải cách hành chính với
cải cách kinh tế trong từng bước đi và trong
từng lĩnh vực, trên từng địa bàn, tạo
ra sự ăn khớp và thúc đẩy lẫn nhau giữa
cải cách hành chính và đổi mới cơ chế
quản lư kinh tế;
-
Cải cách hành chính là công việc nhạy cảm, khó
khăn, đ̣i hỏi các cơ quan chỉ đạo có quan
điểm, nguyên tắc nhất quán, có chương tŕnh
hành động thiết thực trong từng thời gian;
sự lănh đạo, chỉ đạo cuộc cải
cách phải tập trung, thống nhất với quyết
tâm và ư chí cải cách mạnh mẽ;
-
Cải cách hành chính phải được triển khai
đồng bộ từ trên xuống, từ dưới
lên, coi trọng, khuyến khích những sáng kiến, thử
nghiệm của địa phương và cơ sở, xác
định được khâu đột phá trong từng
giai đoạn, t́m ra được động lực
cụ thể thúc đẩy các hoạt động cải
cách;
- Cải cách hành chính phải xuất
phát từ thực tiễn Việt Nam với đặc
điểm, truyền thống, bản sắc Việt Nam;
đồng thời tham khảo, học hỏi kiến
thức, kinh nghiệm của các nước về tổ
chức và hoạt động quản lư để vận
dụng thích hợp.
3. Thuận lợi và khó khăn
đối với cải cách hành chính trong thời gian
tới
10
năm mở đầu của Thế kỷ 21 sẽ là
giai đoạn có nhiều cơ hội và thuận lợi
để đẩy mạnh hơn nữa tiến tŕnh
cải cách hành chính:
- Những bài học thực tiễn
về cải cách hành chính 10 năm qua là cơ sở
tốt cho những quyết định mới về
cải cách hành chính trong thời gian tới;
-
Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế
thị trường định hướng xă hội
chủ nghĩa tạo ra sự thúc đẩy mạnh
mẽ đối với cải cách nền hành chính gắn
với quá tŕnh cải cách kinh tế. Quá tŕnh hội
nhập khu vực và quốc tế tiếp tục mở
rộng cơ hội cho sự hợp tác, trao đổi và
học tập kinh nghiệm về cải cách hành chính
giữa Việt Nam với các nước.
Tuy
nhiên, cuộc cải cách hành chính cũng đứng
trước nhiều khó
khăn, thách thức:
-
Thách thức lớn nhất đối với yêu cầu
xây dựng hệ thống hành chính nhà nước trong
sạch, vững mạnh, quản lư có hiệu lực,
hiệu quả là những yếu kém kéo dài của bộ
máy hành chính nhà nước, tệ quan liêu, nạn tham
nhũng, sự thoái hóa về phẩm chất, đạo
đức của một bộ phận cán bộ, công
chức;
-
Phạm vi và quy mô rộng lớn của cải cách hành
chính đ̣i hỏi phải tiến hành một cách liên
tục, với quyết tâm cao, vừa làm vừa nghiên
cứu, tổng kết thử nghiệm những mô h́nh
tổ chức và quản lư mới. Các cơ quan hành chính nhà
nước phải phấn đấu tự đổi
mới, tự cải cách ḿnh để thực hiện cho
được mục tiêu xây dựng một nền hành
chính dân chủ và từng bước hiện đại
hóa, thực hiện được đầy đủ
quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường
được pháp chế, kỷ cương nhà
nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xă hội chủ nghĩa;
-
Cải cách hành chính được đặt trong tổng
thể đổi mới hệ thống chính trị và
cải cách bộ máy nhà nước nói chung. Trên thực
tế c̣n nhiều vấn đề quan trọng, có ư
nghĩa quyết định đối với việc xác
định nội dung và phương thức tiến hành
cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính, xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xă hội
chủ nghĩa, cần phải tiếp tục nghiên
cứu để có kết luận rơ;
-
Sức ỳ của cơ chế tập trung, quan liêu bao
cấp c̣n ảnh hưởng khá nặng đến
nếp nghĩ, phong cách làm việc của một bộ
phận cán bộ, công chức, trong khi đó cuộc
cải cách lại được tiến hành trong
điều kiện c̣n thiếu kiến thức và kinh
nghiệm quản lư nhà nước trong cơ chế kinh
tế mới, trước yêu cầu xây dựng hệ
thống hành chính nhà nước dân chủ và hiện
đại.
II. MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TR̀NH TỔNG THỂ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
VÀ QUAN ĐIỂM CẢI CÁCH
1.
Mục tiêu
Mục
tiêu chung của Chương tŕnh tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 là: xây dựng một nền hành
chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà
nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa
dưới sự lănh đạo của Đảng; xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của
công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ
bản được cải cách phù hợp với yêu
cầu quản lư nền kinh tế thị trường
định hướng xă hội chủ nghĩa.
Những
mục tiêu cụ thể của Chương tŕnh là:
1.1.
Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ
chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
trước hết là các thể chế về kinh tế,
về tổ chức và hoạt động của hệ
thống hành chính.
Tiếp
tục đổi mới quy tŕnh xây dựng và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính
cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo
các văn bản; đề cao trách nhiệm của
từng cơ quan trong quá tŕnh xây dựng thể chế;
phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân
để nâng cao chất lượng văn bản quy
phạm pháp luật.
1.2.
Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang
tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp
và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo
hướng công khai, đơn giản và thuận tiện
cho dân.
1.3.
Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác
định chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền và trách nhiệm rơ ràng; chuyển được
một số công việc và dịch vụ không cần
thiết phải do cơ quan nhà nước thực
hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xă hội, tổ
chức phi chính phủ đảm nhận.
1.4.
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn
nhẹ, hợp lư theo nguyên tắc Bộ quản lư đa
ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng
chủ yếu là quản lư vĩ mô toàn xă hội bằng
pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra
thực hiện.
Bộ
máy của các Bộ được điều chỉnh
về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rơ chức
năng, phương thức hoạt động của các
bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp
dịch vụ công.
1.5.
Đến năm 2005, về cơ bản xác định
xong và thực hiện được các quy định
mới về phân cấp quản lư hành chính nhà nước
giữa trung ương và địa phương, giữa
các cấp chính quyền địa phương;
định rơ chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở
đô thị và nông thôn.
Các
cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
cấp huyện được tổ chức lại
gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng
quản lư nhà nước theo nhiệm vụ và thẩm
quyền được xác định trong Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
(sửa đổi). Xác định rơ tính chất, cơ
cấu tổ chức, chế độ làm việc của
chính quyền cấp xă.
1.6.
Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công
chức có số lượng, cơ cấu hợp lư, chuyên
nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ
phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và
đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy
phục vụ sự nghiệp phát triển đất
nước và phục vụ nhân dân.
1.7.
Đến năm 2005, tiền lương của cán
bộ, công chức được cải cách cơ
bản, trở thành động lực của nền công
vụ, bảo đảm cuộc sống của cán
bộ, công chức và gia đ́nh.
1.8.
Đến năm 2005, cơ chế tài chính được
đổi mới thích hợp với tính chất của
cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp,
dịch vụ công.
1.9.
Nền hành chính nhà nước được hiện
đại hóa một bước rơ rệt. Các cơ quan
hành chính có trang thiết bị tương đối
hiện đại phục vụ yêu cầu quản lư nhà
nước kịp thời và thông suốt. Hệ thống
thông tin điện tử của Chính phủ
được đưa vào hoạt động.
2.
Cuộc cải cách hành chính đặt trong khuôn khổ các
quan điểm và chủ trương của Đảng
Cộng sản Việt Nam về đổi mới hệ
thống chính trị và cải cách bộ máy nhà nước
-
Cải cách và hoàn thiện nền hành chính nhà nước
gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, đổi mới nội dung và phương
thức lănh đạo của Đảng đối
với Nhà nước nói chung và nền hành chính nói riêng,
nhằm giữ vững và phát huy bản chất của giai
cấp công nhân, xây dựng Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, v́ dân, dưới sự lănh đạo
của Đảng.
-
Nền hành chính phải được tổ chức thành
một hệ thống thống nhất ổn định,
hoạt động thông suốt, trên cơ sở phân công,
phân cấp và chế độ trách nhiệm rành mạch, có
kỷ cương nghiêm ngặt, cơ quan hành chính và cán
bộ, công chức nhà nước chịu sự giám sát
chặt chẽ của nhân dân. áp dụng các cơ chế,
biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa những hành vi
mất dân chủ, tự do, tùy tiện, quan liêu, tham
nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân.
-
Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính
phải gắn liền chặt chẽ với bước
đi của đổi mới kinh tế, với yêu
cầu phát triển đất nước trong quá tŕnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế, h́nh thành và hoàn thiện các yếu
tố của nền kinh tế thị trường
định hướng xă hội chủ nghĩa, giữ
vững trật tự, kỷ cương trong các hoạt
động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân.
-
Cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn,
phức tạp đ̣i hỏi có tầm nh́n bao quát với
những giải pháp đồng bộ, kết hợp
chặt chẽ cải cách hành chính với đổi
mới hoạt động lập pháp, cải cách tư
pháp.
-
Cải cách hành chính phải được tiến hành
từng bước vững chắc, có trọng tâm,
trọng điểm, lựa chọn khâu đột phá trong
từng giai đoạn cụ thể.
III. NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG TR̀NH TỔNG
THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001
- 2010
1.
Cải cách thể chế
1.1.
Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước
hết là thể chế kinh tế của nền kinh
tế thị trường định hướng xă
hội chủ nghĩa, thể chế về tổ
chức và hoạt động của hệ thống hành
chính nhà nước.
Trong
5 năm tới, chú trọng một số thể chế
then chốt sau đây:
- Thể chế về thị
trường vốn và tiền tệ, thị trường
chứng khoán, thị trường bất động
sản, thị trường khoa học và công nghệ,
thị trường lao động, thị trường
dịch vụ.
-
Thể chế về tổ chức và hoạt động
của hệ thống hành chính, trước hết là
tổ chức và hoạt động của Chính phủ,
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ và ủy ban nhân dân các cấp.
- Thể chế về quan hệ
giữa Nhà nước với nhân dân, như: thu thập ư
kiến của nhân dân trước khi quyết định
các chủ trương, chính sách quan trọng, trưng
cầu dân ư, xử lư các hành vi trái pháp luật của cơ
quan và cán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành
công vụ; thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan
hành chính và của Ṭa án trong việc giải quyết
khiếu kiện của nhân dân.
- Thể chế về thẩm quyền
quản lư nhà nước đối với doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng; phân biệt
rơ quyền của chủ sở hữu, quyền quản
lư hành chính nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2. Đổi mới quy tŕnh xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
-
Rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp
luật theo từng lĩnh vực, loại bỏ những
quy định pháp luật không c̣n hiệu lực hoặc
chồng chéo, trùng lắp. Phát huy hiệu quả của
cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản
quy phạm pháp luật.
-
Tăng cường năng lực của các cơ quan hành
chính nhà nước ở trung ương và địa
phương trong việc xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật. Khắc phục t́nh trạng
luật, pháp lệnh chờ nghị định và thông
tư hướng dẫn thi hành.
-
Để nâng cao chất lượng và tránh t́nh trạng
thiếu khách quan, cục bộ trong việc xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật, cần thiết
phải nghiên cứu đổi mới phương
thức, quy tŕnh xây dựng pháp luật từ khâu
đầu cho đến khâu Chính phủ xem xét, quyết
định hoặc thông qua để tŕnh Quốc hội.
-
Ban hành các quy định bảo đảm sự tham gia có
hiệu quả của nhân dân vào quá tŕnh xây dựng pháp
luật, tổ chức tốt việc lấy ư kiến
đóng góp của các tầng lớp nhân dân, của
những người là đối tượng điều
chỉnh của văn bản trước khi ban hành.
-
Các văn bản quy phạm pháp luật phải
được đăng Công báo hoặc yết thị,
đưa tin trên các phương tiện thông tin đại
chúng ngay sau khi kư ban hành để công dân và các tổ
chức có điều kiện t́m hiểu và thực
hiện.
1.3.
Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp
luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của
cán bộ, công chức
-
Cung cấp cho cán bộ, công chức đầy đủ
thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước
để vận dụng, giải quyết công việc theo
chức trách và thẩm quyền.
-
Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở,
chế độ thông tin công khai cho dân về chủ
trương, chính sách của Nhà nước, của chính
quyền địa phương; chế độ cán
bộ lănh đạo chủ chốt của các ngành ở
trung ương và địa phương định
kỳ trực tiếp gặp gỡ, đối thoại
giải quyết các vấn đề do doanh nghiệp và
nhân dân đặt ra.
-
Phát huy hiệu lực của các thiết chế thanh tra,
kiểm sát và tài phán để bảo đảm hiệu
lực quản lư nhà nước, giữ ǵn kỷ
cương xă hội. Phân định rơ trách nhiệm
của các cơ quan thanh tra và Ṭa hành chính trong việc
giải quyết các khiếu kiện của dân đối
với các cơ quan và cán bộ, công chức.
-
Mở rộng dịch vụ tư vấn pháp luật cho
nhân dân, cho người nghèo, người thuộc diện
chính sách và đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu,
vùng xa. Tạo điều kiện cho các luật sư
hoạt động tư vấn có hiệu quả theo pháp luật.
1.4.
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính
-
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm
bảo đảm tính pháp lư, hiệu quả, minh bạch và
công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính.
Loại bỏ những thủ tục rườm rà,
chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng,
gây khó khăn cho dân. Mở rộng cải cách thủ
tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực, xóa
bỏ kịp thời những quy định không cần
thiết về cấp phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm
soát, kiểm dịch, giám định.
Mẫu
hóa thống nhất trong cả nước các loại
giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp cần
phải làm khi có yêu cầu giải quyết các công việc
về sản xuất, kinh doanh và đời sống.
- Ban hành cơ chế kiểm tra cán
bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công
việc của dân; xử lư nghiêm người có hành vi sách
nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm; khen thưởng
những người hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ được giao.
-
Mở rộng thực hiện cơ chế "một
cửa" trong việc giải quyết công việc
của cá nhân và tổ chức ở các cơ quan hành chính
nhà nước các cấp. Cơ quan hành chính các cấp có
trách nhiệm giải quyết công việc của cá nhân và
tổ chức phải niêm yết công khai, đầy
đủ mọi thủ tục, tŕnh tự, lệ phí,
lịch công tác tại trụ sở làm việc.
-
Quy định cụ thể và rơ ràng trách nhiệm cá nhân
trong khi thi hành công vụ. Việc xác định quyền
hạn và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong
khi thi hành công vụ phải đi liền với việc
đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công
chức.
2.
Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
2.1.
Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ
của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa
phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu
quản lư nhà nước trong t́nh h́nh mới
-
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ tập trung
thực hiện chức năng xây dựng, ban hành thể
chế, kế hoạch, chính sách, quản lư vĩ mô
đối với sự phát triển kinh tế - xă
hội, chỉ đạo và kiểm tra thực hiện.
-
Phân định rơ thẩm quyền và trách nhiệm của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của tập
thể và trách nhiệm cá nhân trong cơ quan hành chính các
cấp.
-
Định rơ vai tṛ, chức năng và trách nhiệm của
chính quyền địa phương các cấp phù hợp
với yêu cầu đổi mới sự phân cấp
quản lư hành chính giữa trung ương và địa
phương, gắn với các bước phát triển
của cải cách kinh tế.
2.2.
Từng bước điều chỉnh những công
việc mà Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa
phương đảm nhiệm để khắc phục
những chồng chéo, trùng lắp về chức năng,
nhiệm vụ. Chuyển cho các tổ chức xă hội,
tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm
những công việc về dịch vụ không cần
thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước
trực tiếp thực hiện.
2.3.
Đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp
dụng các quy định mới về phân cấp trung
ương - địa phương, phân cấp giữa các
cấp chính quyền địa phương, nâng cao
thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền
địa phương, tăng cường mối liên
hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân
dân địa phương. Gắn phân cấp công việc
với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán
bộ. Định rơ những loại việc địa
phương toàn quyền quyết định, những
việc trước khi địa phương quyết
định phải có ư kiến của trung ương và
những việc phải thực hiện theo quyết
định của trung ương.
2.4.
Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính
phủ
-
Xây dựng cơ cấu tổ chức của Chính phủ
gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ làm chức năng
quản lư nhà nước. Trên cơ sở xác định,
điều chỉnh chức năng của Chính phủ, các
Bộ, cơ quan ngang Bộ phù hợp với yêu cầu
quản lư nhà nước về chính trị, kinh tế,
văn hóa, xă hội, quốc pḥng, an ninh và đối
ngoại, về mối quan hệ giữa các ngành, các
lĩnh vực trong t́nh h́nh mới mà định lại
số lượng và cơ cấu các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, làm cho bộ máy của Chính phủ gọn nhẹ,
chức trách rơ ràng, làm việc khoa học, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả. Điều
chỉnh tổ chức các cơ quan có chức năng
quản lư nhà nước cho phù hợp với cơ cấu
của Chính phủ. Đổi tên một số Bộ,
cơ quan ngang Bộ cho phù hợp với nội dung và phạm
vi trách nhiệm quản lư nhà nước.
-
Giảm mạnh các cơ quan thuộc Chính phủ và tổ
chức trực thuộc Thủ tướng Chính phủ.
Chỉ duy tŕ một số ít cơ quan thuộc Chính
phủ có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ phục
vụ cho công việc quản lư vĩ mô của Chính
phủ.
-
Định rơ tính chất, phương thức hoạt
động của các tổ chức tư vấn do
Thủ tướng Chính phủ thành lập. Chỉ thành
lập các tổ chức này khi Chính phủ có yêu cầu
chỉ đạo tập trung những nhiệm vụ quan
trọng liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực. Các tổ chức này không có bộ máy chuyên trách và
biên chế riêng, bộ phận thường trực
đặt tại Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ có
liên quan nhiều nhất.
-
Trên cơ sở xác định đúng chức năng
quản lư nhà nước và phạm vi quản lư của
mỗi Bộ, cơ quan ngang Bộ, tách chức năng
quản lư nhà nước của Bộ, cơ quan ngang
Bộ đối với toàn ngành, lĩnh vực trong
phạm vi cả nước với việc chỉ
đạo, điều hành các tổ chức sự
nghiệp có tính chất dịch vụ công trực thuộc
Bộ, cơ quan ngang Bộ.
2.5.
Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy
bên trong của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ
-
Tách chức năng quản lư nhà nước của Bộ,
cơ quan ngang Bộ đối với ngành, lĩnh vực
trong phạm vi cả nước với chức năng
điều hành các tổ chức sự nghiệp công
trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; theo đó,
tách tổ chức hành chính với tổ chức sự
nghiệp công để hoạt động theo các cơ
chế riêng, phù hợp, có hiệu quả.
-
Cơ cấu lại tổ chức bộ máy bên trong
của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, làm cho bộ máy tinh gọn, hợp lư,
tương xứng với chức năng, nhiệm vụ
quản lư nhà nước của mỗi cơ quan;
định rơ tính chất và các loại h́nh tổ chức
trực thuộc để tham mưu và thực thi pháp
luật.
2.6.
Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền
địa phương
-
Quy định các tiêu chí cụ thể đối với
từng loại đơn vị hành chính ở nước
ta để đi đến ổn định, chấm
dứt t́nh trạng chia, tách nhiều như thời gian qua.
-
Xác định rơ chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của chính quyền địa
phương trên cơ sở phân cấp rơ ràng và hợp lư
giữa trung ương và địa phương, phân biệt
chức năng, nhiệm vụ của chính quyền ở
đô thị với chính quyền ở nông thôn; tổ
chức hợp lư Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân ở từng cấp căn cứ vào quy định
của Hiến pháp (sửa đổi) và Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
(sửa đổi).
-
Sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn
thuộc ủy ban nhân dân các cấp theo hướng trách
nhiệm rơ ràng, phân công rành mạch, bộ máy gọn
nhẹ, tăng cường tính chuyên nghiệp, giải
quyết nhanh công việc của cá nhân và tổ chức.
2.7.
Cải tiến phương thức quản lư, lề
lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp
-
Xác định rơ các nguyên tắc làm việc và quy chế
phối hợp trong sự vận hành bộ máy hành chính.
Định rơ phận sự, thẩm quyền và trách
nhiệm của người đứng đầu cơ
quan, đơn vị về kết quả hoạt
động của bộ máy do ḿnh phụ trách.
-
Loại bỏ những việc làm h́nh thức, không có
hiệu quả thiết thực, giảm hội họp,
giảm giấy tờ hành chính. Tăng cường trách
nhiệm và năng lực của cơ quan hành chính trong
giải quyết công việc của cá nhân và tổ
chức.
2.8.
Thực hiện từng bước hiện đại hóa
nền hành chính
-
Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động chỉ đạo, điều hành
của hệ thống hành chính nhà nước; áp dụng
các công cụ, phương pháp quản lư tiên tiến,
hiện đại trong các cơ quan hành chính nhà
nước.
-
Tăng cường đầu tư để đến
năm 2010, các cơ quan hành chính có trang thiết bị
tương đối hiện đại, cơ quan hành
chính cấp xă trong cả nước có trụ sở và
phương tiện làm việc bảo đảm nhiệm
vụ quản lư; mạng tin học diện rộng
của Chính phủ được thiết lập tới
cấp xă.
3.
Đổi mới, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức
3.1.
Đổi mới công tác quản lư cán bộ, công chức
Đổi
mới công tác quản lư cán bộ, công chức phù hợp
với quá tŕnh phát triển kinh tế - xă hội và cải
cách hành chính:
- Tiến hành tổng
điều tra, đánh giá đội ngũ cán bộ, công
chức nhằm xác định chính xác số lượng, chất
lượng của toàn bộ đội ngũ cán bộ,
công chức, trên cơ sở đó quy hoạch, xây dựng
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quản
lư đội ngũ cán bộ, công chức. Xây dựng hệ thống
cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức
để từng bước chuyển sang quản lư cán
bộ, công chức bằng hệ thống tin học ở
các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và
ở địa phương;
- Sửa đổi, bổ sung hệ
thống ngạch, bậc, các quy định hiện hành
về tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh cán bộ,
công chức. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn
chức danh phù hợp với thực tiễn Việt Nam,
với yêu cầu công tác chuyên môn của từng đối
tượng, làm căn cứ cho việc đánh giá năng
lực của cán bộ, công chức;
-
Xác định cơ cấu cán bộ, công chức hợp
lư gắn với chức năng, nhiệm vụ trong các
cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và
ở địa phương, làm cơ sở cho việc
định biên và xây dựng, phát triển đội
ngũ cán bộ, công chức. Cải tiến phương
pháp định biên làm căn cứ cho việc quyết
định về số lượng, chất lượng
và cơ cấu cán bộ, công chức phù hợp với
khối lượng và chất lượng công việc
của từng cơ quan hành chính;
- Hoàn thiện chế độ
tuyển dụng cán bộ, công chức, thực hiện quy
chế mới về đánh giá, khen thưởng, kỷ
luật đối với cán bộ, công chức để
nâng cao chất lượng hoạt động công vụ.
Cơ chế thi tuyển phải bảo đảm tính dân
chủ, công khai, chọn đúng người đủ tiêu
chuẩn vào bộ máy nhà nước, chú ư bảo
đảm một tỷ lệ thích đáng cán bộ, công
chức nữ trong các ngành, lĩnh vực khác nhau;
- Xây dựng quy định thống
nhất về tinh giản biên chế trong cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp ở trung
ương và địa phương để thực
hiện được việc thường xuyên
đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công
chức không đủ năng lực, tŕnh độ,
những người vi phạm pháp luật, vi phạm
đạo đức nghề nghiệp, tạo
điều kiện đổi mới, trẻ hóa, nâng cao
năng lực của đội ngũ cán bộ, công
chức;
-
Đổi mới, nâng cao năng lực của các cơ
quan và cán bộ làm nhiệm vụ quản lư cán bộ, công
chức, công vụ phù hợp với yêu cầu, nhiệm
vụ của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa;
-
Sửa đổi việc phân cấp trách nhiệm quản
lư cán bộ, công chức. Mở rộng quyền và trách
nhiệm quản lư cán bộ, công chức của chính
quyền địa phương. Phân cấp quản lư
về nhân sự đi liền với phân cấp về
nhiệm vụ và phân cấp về tài chính.
ư3.2.
Cải cách tiền lương và các chế độ, chính
sách đăi ngộ
Cải
cách tiền lương theo quan điểm: coi tiền
lương là h́nh thức đầu tư trực tiếp
cho con người, đầu tư cho phát triển kinh
tế - xă hội, góp phần nâng cao chất lượng
cán bộ, công chức và hoạt động công vụ.
Những việc chính là:
-
Nâng mức lương tối thiểu cho cán bộ, công
chức đủ sống bằng lương. Cải cách
hệ thống thang lương, bảng lương trên
cơ sở xem xét tính chất và đặc điểm lao
động của các loại cán bộ, công chức;
điều chỉnh bội số và hệ số tiền
lương trong các thang, bảng lương;
-
Chậm nhất đến năm 2005, thực hiện xong
cải cách cơ bản chế độ tiền
lương đối với cán bộ, công chức,
thực hiện tiền tệ hoá đầy đủ
tiền lương, điều chỉnh tiền
lương tương ứng với nhịp độ
tăng thu nhập trong xă hội;
-
Sửa đổi, bổ sung các quy định về
chế độ phụ cấp ngoài tiền lương
theo ngạch, bậc, theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp
vụ cán bộ, công chức cho cán bộ, công chức làm
việc trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm,
độc hại;
-
Ban hành và thực hiện chế độ tiền
thưởng đối với cán bộ, công chức hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ và các chế độ
đăi ngộ khác ngoài tiền lương đối
với cán bộ, công chức.
3.3.
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
- Đánh giá lại công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, xây dựng và triển khai kế
hoạch về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
theo từng loại: cán bộ, công chức làm
nhiệm vụ tham mưu hoạch định chính sách; cán
bộ, công chức các ngạch hành chính, sự nghiệp và
cán bộ chính quyền cơ sở.
- Tiếp tục đổi
mới nội dung chương tŕnh và phương thức
đào tạo, bồi dưỡng, chú trọng nâng cao
kiến thức, kỹ năng hành chính cho đội
ngũ cán bộ, công chức theo chức trách, nhiệm
vụ đang đảm nhận. Mỗi loại cán
bộ, công chức có chương tŕnh, nội dung đào
tạo và bồi dưỡng phù hợp.
Kết hợp đào tạo
chính quy với các h́nh thức đào tạo không chính quy,
đào tạo trong nước và gửi đi đào
tạo ngoài nước. Khuyến khích cán bộ, công
chức tự học có sự giúp đỡ của Nhà
nước.
-
Tổ chức lại hệ thống cơ sở đào
tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức;
điều chỉnh sự phân công giữa các cơ sở
đào tạo. Tạo điều kiện để
Học viện Hành chính Quốc gia, các trường đào
tạo cán bộ của các tỉnh, thành phố có thể
chủ động đào tạo một bộ phận nhân
lực phục vụ bộ máy hành chính nhà nước
ở trung ương và địa phương.
3.4.
Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán
bộ, công chức
-
Tăng cường các biện pháp giáo dục cán bộ,
công chức về tinh thần trách nhiệm, ư thức
tận tâm, tận tuỵ với công việc. Xây dựng
tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cán bộ,
công chức. Tôn vinh nghề nghiệp, danh dự của
người cán bộ, công chức.
-
Ban hành và thực hiện nghiêm Quy chế công vụ, gắn
với thực hiện Quy chế dân chủ trong các cơ
quan hành chính nhà nước, thực hiện triệt
để nguyên tắc công khai hóa hoạt động công
vụ, nhất là trong các công việc có quan hệ trực
tiếp với công dân, trong lĩnh vực tài chính, ngân sách;
bảo đảm thực hiện kỷ cương
của bộ máy, nâng cao trách nhiệm, ư thức tổ
chức kỷ luật của đội ngũ cán bộ,
công chức.
-
Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan
liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Thực
hiện chế độ kiểm toán và các chế
độ bảo vệ công sản và ngân sách nhà
nước.
4.
Cải cách tài chính công
4.1.
Đổi mới cơ chế phân cấp quản lư tài
chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất
của hệ thống tài chính quốc gia và vai tṛ chỉ
đạo của ngân sách trung ương; đồng
thời phát huy tính chủ động, năng động,
sáng tạo và trách nhiệm của địa phương
và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách.
4.2. Bảo đảm quyền
quyết định ngân sách địa phương của
Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều
kiện cho chính quyền địa phương chủ
động xử lư các công việc ở địa
phương; quyền quyết định của các
Bộ, Sở, Ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các
đơn vị trực thuộc; quyền chủ
động của các đơn vị sử dụng ngân
sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù
hợp với chế độ, chính sách.
4.3. Trên cơ sở phân biệt rơ
cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự
nghiệp, dịch vụ công, trong 2 năm 2001 và 2002
thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ
ngân sách cho cơ quan hành chính, xoá bỏ chế độ
cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay
thế bằng cách tính toán kinh phí căn cứ vào kết
quả và chất lượng hoạt động,
hướng vào kiểm soát đầu ra, chất
lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành
chính, đổi mới hệ thống định mức
chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ
động của cơ quan sử dụng ngân sách.
4.4.
Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính
đối với khu vực dịch vụ công
-
Xây dựng quan niệm đúng về dịch vụ công. Nhà
nước có trách nhiệm chăm lo đời sống
vật chất và văn hoá của nhân dân, nhưng không
phải v́ thế mà mọi công việc về dịch
vụ công đều do cơ quan nhà nước trực
tiếp đảm nhận. Trong từng lĩnh vực
định rơ những công việc mà Nhà nước
phải đầu tư và trực tiếp thực
hiện, những công việc cần phải chuyển
để các tổ chức xă hội đảm nhiệm.
Nhà
nước có các chính sách, cơ chế tạo điều
kiện để doanh nghiệp, tổ chức xă hội
và nhân dân trực tiếp làm các dịch vụ phục
vụ sản xuất và đời sống dưới
sự hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra,
kiểm soát của cơ quan hành chính nhà nước.
-
Xoá bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu
"xin - cho", ban hành các cơ chế, chính sách thực
hiện chế độ tự chủ tài chính cho các
đơn vị sự nghiệp có điều kiện
như trường đại học, bệnh viện,
viện nghiên cứu v.v... trên cơ sở xác định
nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ
trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và phần c̣n
lại do các đơn vị tự trang trải.
4.5. Thực hiện thí điểm
để áp dụng rộng răi một số cơ chế
tài chính mới, như:
-
Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê
đất để xây dựng cơ sở nhà
trường, bệnh viện; chế độ bảo
hiểm xă hội, bảo hiểm y tế đối
với cán bộ, công chức chuyển từ các đơn
vị công lập sang dân lập;
- Cơ chế khuyến khích các nhà
đầu tư trong nước, nước ngoài
đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo
dạy nghề, đại học, trên đại học,
cơ sở chữa bệnh có chất lượng cao
ở các thành phố, khu công nghiệp; khuyến khích liên
doanh và đầu tư trực tiếp của nước
ngoài vào lĩnh vực này;
- Thực hiện cơ chế khoán
một số loại dịch vụ công cộng như:
vệ sinh đô thị, cấp, thoát nước, cây xanh
công viên, nước phục vụ nông nghiệp ...;
- Thực hiện cơ chế
hợp đồng một số dịch vụ công trong
cơ quan hành chính.
4.6. Đổi mới công tác kiểm
toán đối với các cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và
hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà
nước, xóa bỏ t́nh trạng nhiều đầu
mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với
các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài
chính công, tất cả các chỉ tiêu tài chính đều
được công bố công khai.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1.
Các giải pháp chủ yếu
1.1.
Tăng cường công tác chỉ đạo, điều
hành
Cải
cách hành chính đ̣i hỏi sự đổi mới sâu
sắc trong tư duy, nhận thức về tổ chức
thực hiện cải cách. Qua những bài học sâu
sắc về cải cách hành chính thời gian qua, cần
tăng cường công tác chỉ đạo, triển khai
cải cách hành chính từ trung ương một cách
quyết liệt. Để thực hiện
được Chương tŕnh tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 cần có
quyết tâm chính trị của các cấp lănh đạo cao
của Đảng và Nhà nước, của những
người đứng đầu các cơ quan hành chính các
cấp.
1.2. Thực hiện cải cách
hành chính đồng bộ với đổi mới hệ
thống chính trị
Chương
tŕnh tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001 - 2010 phải được tổ chức
thực hiện đồng bộ với đổi
mới hệ thống chính trị. Đảng lănh
đạo toàn bộ hoạt động của Nhà
nước, trong đó bộ máy hành pháp là công cụ quan
trọng thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng. Sự đổi mới tổ chức và
hoạt động của Đảng, trước
hết là đổi mới nội dung và phương
thức lănh đạo của Đảng có ư nghĩa
cực kỳ quan trọng đối với cải cách
hành chính. Sự chỉ đạo cải cách hành chính
phải gắn chặt với sự chỉ đạo
đổi mới hoạt động lập pháp và cải
cách tư pháp.
1.3.
Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ
từ trung ương tới địa phương
Thực
hiện đồng bộ cải cách hành chính ở các
ngành, các cấp; trước hết tập trung làm mạnh
ở các Bộ, ngành trung ương, từ đó tạo
tiền đề động viên, thúc đẩy cải cách
hành chính của chính quyền địa phương.
Cần khắc phục sự thụ động, không
khẩn trương của các Bộ, ngành trung ương
trong việc sửa đổi những thể chế không
c̣n phù hợp; trong việc phân cấp cho chính quyền
địa phương.
Xác
định rơ trách nhiệm của người đứng
đầu các cơ quan hành chính nhà nước trong việc
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải
cách hành chính trong phạm vi ḿnh phụ trách. Từ Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ đến các
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân các cấp phải thực sự dành công
sức chỉ đạo và tổ chức triển khai
thực hiện các nhiệm vụ về cải cách hành
chính đă đề ra, coi đó là nhiệm vụ trọng
tâm, thường xuyên trong toàn bộ hoạt động
chỉ đạo, điều hành của cơ quan hành
chính nhà nước ở các cấp.
1.4.
Bố trí đủ nguồn tài chính và nhân lực
Để
thực hiện được Chương tŕnh tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001 - 2010, cần phải huy động và bố trí
đủ cán bộ có năng lực cho việc chuẩn
bị và thực hiện các nhiệm vụ đă
đề ra. Nâng cao năng lực nghiên cứu và chỉ
đạo của các cơ quan có trách nhiệm giúp Chính
phủ và ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực
hiện nhiệm vụ cải cách hành chính.
Bố
trí nguồn lực tài chính cần thiết từ ngân sách
nhà nước để xây dựng và thực hiện các
chương tŕnh hành động cụ thể đă xác
định.
1.5.
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền
Cải
cách hành chính không chỉ là công việc riêng của hệ
thống hành chính, mà là yêu cầu chung của toàn xă hội.
V́ vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền,
phổ biến thông tin để mọi cán bộ, công
chức và người dân nhận thức đúng về
cải cách bộ máy nhà nước và cải cách hành chính.
Cần có những biện pháp thiết thực để
thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối
với hoạt động của bộ máy hành chính.
2.
Các giai đoạn thực hiện Chương tŕnh
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001 - 2010
Chương
tŕnh tổng thể 10 năm được chia làm 2 giai
đoạn:
-
Giai đoạn 1 (2001 - 2005): nhiệm vụ trọng tâm là:
+
Xác định rành mạch chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính
từ Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ tới ủy ban nhân dân các cấp;
+
Thực hiện xong về cơ bản việc phân cấp
chức năng và thẩm quyền về quản lư nhà
nước giữa trung ương và địa
phương; giữa các cấp chính quyền địa
phương;
+
Đổi mới cơ chế hoạt động và
quản lư tài chính công đối với các cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp;
+
Thực hiện xong về cơ bản việc cải cách
chế độ tiền lương cán bộ, công
chức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
IX của Đảng.
Các
giải pháp chính trong hai năm 2001 - 2002:
+
Tiếp tục hoàn thiện thể chế tổ chức
bộ máy nhà nước thông qua sửa đổi Hiến
pháp năm 1992 và các luật về tổ chức bộ máy
nhà nước;
+
Các Bộ, ngành Trung ương, Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện
việc rà soát chức năng, nhiệm vụ, xác
định cơ cấu tổ chức và thực hiện
tinh giản biên chế theo Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ số 207/1999/QĐ-TTg ngày
25 tháng 10 năm 1999 và Nghị quyết của Chính phủ
số 16/2000/NQ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2000;
+
Có chính sách giải quyết thoả đáng số người
dôi ra;
+
Cuối năm 2002, chuẩn bị xong đề án cải
cách cơ bản tiền lương cán bộ, công chức
để có thể thực hiện từ năm 2003;
+
Xây dựng và đưa vào thực hiện các cơ chế
mới về tổ chức và hoạt động của
trường đại học, bệnh viện, viện
nghiên cứu khoa học;
+
Tŕnh Quốc hội khóa mới (khoá XI) trong năm 2002 phê
chuẩn cơ cấu tổ chức của Chính phủ
đă được đổi mới theo tinh thần
cải cách hành chính.
-
Giai đoạn 2 (2006 - 2010): Trên cơ sở các kết
quả đă đạt được trong giai
đoạn 1, tiếp tục điều chỉnh, hoàn
chỉnh, làm cho bộ máy của Chính phủ và toàn bộ
hệ thống quản lư hành chính nhà nước phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế - xă hội,
thực hiện được mục tiêu chung của
Chương tŕnh tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001 - 2010.
3.
Các chương tŕnh hành động thực hiện
Chương tŕnh tổng thể
Chương tŕnh tổng thể
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010
được thực hiện thông qua các chương tŕnh
hành động cụ thể sau đây:
3.1.
Chương tŕnh đổi mới công tác xây dựng, ban
hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm
pháp luật
-
Nội dung chủ yếu:
+
Đổi mới quy tŕnh, thủ tục chuẩn bị và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phương
thức hợp tác và phân công giữa các cơ quan có liên quan
trong chuẩn bị và ban hành văn bản;
+
Huy động sự tham gia của chuyên gia, nhân dân và các
bộ phận chủ yếu có liên quan đến các quy
định nêu trong văn bản vào quá tŕnh xây dựng và
thông qua văn bản;
+
Sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 1996 và các Nghị định
có liên quan; xây dựng và ban hành Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương;
+
Tăng cường năng lực các cơ quan, tổ
chức trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật.
-
Thời gian thực hiện: 2001 - 2010, chia 2 giai đoạn
là: 2001 - 2005 và 2006 - 2010.
-
Cơ quan chủ tŕ: Bộ Tư pháp và Văn pḥng Chính
phủ.
3.2.
Chương tŕnh nghiên cứu xác định vai tṛ, chức
năng và cơ cấu tổ chức của các cơ quan
trong hệ thống hành chính nhà nước
-
Nội dung chủ yếu:
+
Xác định vai tṛ, chức năng của Chính phủ,
các Bộ, cơ quan ngang Bộ theo hướng tập trung
vào thực hiện quản lư nhà nước vĩ mô toàn xă
hội;
+
Rà soát chức năng, nhiệm vụ của các Bộ,
ngành trung ương để khắc phục t́nh trạng
chồng chéo, trùng lắp; loại bỏ dần các công
việc không nhất thiết do cơ quan nhà nước
làm;
+
Nghiên cứu xác định lại cơ cấu tổ
chức của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
+ Tinh giản các cơ quan thuộc
Chính phủ có chức năng quản lư nhà nước;
+
Xác định cơ cấu hợp lư, gọn nhẹ các
tổ chức bên trong các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ;
+
Xác định vai tṛ, chức năng của chính quyền
địa phương các cấp, phân biệt rơ tính
chất, phương thức quản lư của chính
quyền ở đô thị và chính quyền ở nông thôn;
+
Nghiên cứu và thực hiện sự phân cấp trung
ương và địa phương trên các ngành và lĩnh
vực;
+
Xác định cơ cấu tổ chức bộ máy phù
hợp của chính quyền các cấp.
-
Thời gian thực hiện: 2001 - 2010, chia 2 giai đoạn
là: 2001 - 2005 và 2006 - 2010.
-
Cơ quan chủ tŕ: Ban Tổ chức - Cán bộ Chính
phủ và Văn pḥng Chính phủ.
3.3.
Chương tŕnh tinh giản biên chế
Chương tŕnh này được
tiếp tục thực hiện trong giai đoạn 2001 -
2002 căn cứ vào Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày
18 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ về việc tinh
giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp.
Cơ
quan chủ tŕ: Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ.
3.4.
Chương tŕnh xây dựng, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức
-
Nội dung chủ yếu:
+ Đánh giá lại, sửa
đổi việc phân loại, ban hành tiêu chuẩn cán
bộ, công chức;
+
Thực hiện phân cấp quản lư nhân sự;
+
Đổi mới phương thức đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức;
+ Xác định nội dung,
chương tŕnh đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức phù hợp, tập trung vào công chức
hành chính và cán bộ chính quyền cơ sở;
+
Xây dựng và tổ chức thực hiện kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức, bao gồm kế hoạch chung của Chính phủ,
kế hoạch của các Bộ, ngành và chính quyền
địa phương;
+
Tổ chức lại hệ thống đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức trên cơ sở
phân công và phân cấp hợp lư;
+
Xây dựng các công cụ quản lư nguồn nhân lực
với sự trợ giúp của công nghệ tin học.
-
Thời gian thực hiện:
2001 - 2010, chia 2 giai đoạn là: 2001 - 2005 và 2006 - 2010.
-
Cơ quan chủ tŕ: Ban Tổ chức - Cán bộ Chính
phủ và Học viện Hành chính quốc gia.
3.5.
Chương tŕnh cải cách tiền lương
-
Nội dung chủ yếu:
ư+
Nâng mức lương tối thiểu;
+
Cải cách hệ thống thang bảng lương phù
hợp với các đối tượng là cán bộ, công
chức hành chính, sự nghiệp;
+
Hợp lư hóa ngạch, bậc;
+
Áp dụng các chế
độ khuyến khích ngoài lương;
+
Chế độ thưởng cho cán bộ, công chức
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
ư- Thời gian thực
hiện: 2001 - 2005.
-
Cơ quan chủ tŕ: Ban Tổ chức - Cán bộ Chính
phủ.
3.6.
Chương tŕnh đổi mới cơ chế quản lư
tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp công
-
Nội dung chủ yếu:
+ Xác lập tiêu chí mới về
xây dựng và phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính theo
kết quả đầu ra và chất lượng hoạt
động, mức độ hoàn thành nhiệm vụ
được giao;
+
Thực hiện chế độ khoán chi trong cơ quan hành
chính;
+
Xây dựng cơ chế tài chính phù hợp với các tổ
chức thực hiện chức năng dịch vụ công
và đơn vị sự nghiệp nhằm bảo
đảm tính độc lập tương đối và
vai tṛ tự chủ của các tổ chức này trong
hoạt động, giảm dần chi từ ngân sách nhà
nước tiến tới thực hiện chế
độ tự quản tài chính.
-
Thời gian thực hiện: 2001 - 2005.
-
Cơ quan chủ tŕ: Bộ Tài chính.
3.7.
Chương tŕnh hiện đại hóa nền hành chính
-
Nội dung chủ yếu:
+
Đổi mới phương thức điều hành
của hệ thống hành chính;
+
Hiện đại hóa công sở, bảo đảm trang
thiết bị và điều kiện làm việc
tương đối hiện đại cho các cơ quan
hành chính;
+
Ứng dụng công nghệ
thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp;
+
Tiếp tục nâng cấp và mở rộng mạng tin
học diện rộng của Chính phủ đến 4
cấp chính quyền;
+ Chính quyền cấp xă có trụ
sở và phương tiện làm việc đáp ứng yêu
cầu của nhiệm vụ quản lư.
-
Thời gian thực hiện: 2001 -2010, chia 2 giai đoạn
là: 2001 - 2005 và 2006 - 2010.
-
Cơ quan chủ tŕ: Văn pḥng Chính phủ.
4.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện Chương
tŕnh tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001 - 2010
4.1.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chung
việc triển khai thực hiện Chương tŕnh
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2001 - 2010.
4.2.
Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính
phủ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ
đạo, hướng dẫn triển khai thực
hiện Chương tŕnh tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.
4.3. Các cơ quan được giao chủ tŕ các chương tŕnh hành động cụ thể chịu trách nhiệm xây dựng chương tŕnh, tŕnh Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, làm đầu mối phối hợp với