NGHỊ
ĐỊNH
CỦA CHÍNH
PHỦ SỐ 29/1998/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 5 NĂM 1998
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ
Ở XÃ
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ
chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Nghị quyết
45/1998/NQ-UBTVQH10 của ủy ban Thường vụ
Quốc hội ngày 26 tháng 02 năm 1998 về
việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn;
Theo đề nghị của
Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán
bộ Chính phủ,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế thực
hiện dân chủ ở xã.
Điều 2. Quy
chế này áp dụng đối với cả phường
và thị trấn. Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ
hướng dẫn việc áp dụng Quy chế này
đối với phường và thị trấn.
Điều 3.
Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể
từ ngày ký. Những quy định trước đây
trái với Quy chế này đều bãi bỏ.
Điều 4. Các
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi
hành Nghị định này.
QUY
CHẾ
THỰC
HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ
(Ban hành kèm theo Nghị
định số 29/1998/NĐ-CP
ngày 11 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ)
LỜI NÓI ĐẦU
Dân
chủ là bản chất của chế độ và Nhà
nước ta. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo
ra sức mạnh to lớn, góp phần quyết
định vào sự thành công của cách mạng.
Quyền
làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực đã
được ghi trong Hiến pháp, Luật và các văn
bản pháp luật của Nhà nước.
Quy
chế này chỉ quy định những việc chính
quyền địa phương phải thông tin và công khai
để dân biết, những việc dân bàn và quyết
định trực tiếp, những việc dân tham gia ý
kiến trước khi cơ quan Nhà nước quyết
định, những việc dân giám sát, kiểm tra và các
hình thức thực hiện quy chế dân chủ.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Quy
chế thực hiện dân chủ ở xã nhằm phát huy
quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở
xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh
thần to lớn của nông dân và nhân dân trong phát triển
kinh tế, ổn định chính trị, xã hội,
tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện
dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, chính
quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững
mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy
thoái, quan liêu, tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Điều 2.
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền
với cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ"; phát huy tốt
chế độ dân chủ đại diện, nâng cao
chất lượng và hiệu lực hoạt động
của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân,
thực hiện tốt chế độ dân chủ
trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn
bạc và quyết định trực tiếp những công
việc quan trọng, thiết thực, gắn liền
với lợi ích của mình.
Điều 3. Dân
chủ trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật;
quyền đi đôi với nghĩa vụ; dân chủ
đi đôi với trật tự, kỷ cương; kiên
quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ
vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm quyền
tự do, dân chủ của nhân dân.
CHƯƠNG II
NHỮNG
VIỆC CẦN THÔNG BÁO ĐỂ NHÂN DÂN BIẾT
Điều 4. Chính
quyền địa phương có trách nhiệm thông tin
kịp thời và công khai để nhân dân biết những
công việc chính sau :
1. Chính sách, pháp luật của Nhà
nước.
2. Các quy định của Nhà nước
và chính quyền địa phương về thủ
tục hành chính giải quyết các công việc liên quan
đến dân.
3. Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội dài hạn và hàng năm của xã.
4. Quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai.
5. Các nghị quyết của Hội
đồng nhân dân, và quyết định của Uỷ ban
nhân dân xã và của cấp trên liên quan đến địa
phương.
6. Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng
năm.
7. Dự toán và quyết toán thu chi các
quỹ, dự án, các khoản huy động đóng góp xây
dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi
công cộng của xã, thôn, làng, ấp, bản và kết
quả thực hiện.
8. Các chương trình dự án do Nhà
nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài
trợ trực tiếp cho xã.
9. Chủ trương, kế hoạch vay
vốn phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo.
10. Điều chỉnh địa giới
hành chính xã và các đơn vị hành chính liên quan đến
xã.
11. Kết quả thanh tra, kiểm tra,
giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng
của cán bộ xã, thôn, làng, ấp, bản.
12. Công tác văn hóa, xã hội, phòng chống
tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an
toàn xã hội của xã.
13. Sơ kết, tổng kết hoạt
động của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân
dân xã.
14. Những việc khác mà chính quyền
thấy cần thiết và nhân dân yêu cầu được
thông báo.
Điều 5.
Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã có trách
nhiệm phối hợp với ủy ban Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể ở xã và trưởng
thôn, làng, ấp, bản cung cấp các thông tin ghi ở
Điều 4 để nhân dân biết thông qua các hình
thức :
1. Bằng các văn bản.
2. Niêm yết công khai tại trụ sở
ủy ban nhân dân xã và các trung tâm dân cư, văn hóa.
3. Hệ thống truyền thanh xã, thôn, làng,
ấp, bản và các tổ chức văn hóa, thông tin, tuyên
truyền cơ sở.
4. Các cuộc tiếp xúc cử tri của
đại biểu Hội đồng nhân dân xã.
5. Các kỳ họp của Hội
đồng nhân dân xã, các cuộc họp của ủy ban
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các
hội, các cuộc họp của thôn, làng, ấp, bản.
6. Tại cuộc họp sơ kết 6
tháng, tổng kết cuối năm, kiểm điểm
hoạt động của Hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân xã, báo cáo kiểm điểm công tác và
tự phê bình trước dân của Chủ tịch Hội
đồng nhân dân và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã.
CHƯƠNG III
NHỮNG
VIỆC NHÂN DÂN BÀN VÀ QUYẾT ĐỊNH TRỰC TIẾP
Điều 6.
Nhân dân ở xã, thôn, làng, ấp, bản bàn và quyết
định trực tiếp những công việc chủ
yếu sau :
1. Chủ trương và mức đóng góp
xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc
lợi công cộng (điện, đường,
trường học, trạm xá, nghĩa trang, các công trình
văn hóa, thể thao...).
2. Lập, thu, chi các loại quỹ trong
khuôn khổ pháp luật.
3. Xây dựng hương ước, quy
ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ
gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín
dị đoan, các tệ nạn xã hội.
4. Các công việc trong nội bộ cộng
đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản, phù hợp
với pháp luật của Nhà nước.
5. Thành lập ban giám sát công trình xây dựng
do dân đóng góp.
6. Tổ chức bảo vệ sản
xuất, kinh doanh.
Điều 7.
Ngoài những khoản đóng góp ghi ở Điều 6,
những khoản dân ủng hộ với mục đích
tương trợ, nhân đạo, từ thiện do chính
quyền, ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể, các Hội và các tổ chức xã hội
tuyên truyền, vận động nhân dân theo nguyên tắc
hoàn toàn tự nguyện, không được áp đặt,
phân bổ, bình quân nhất loạt.
Điều 8.
Phương thức thực hiện những việc nhân
dân quyết định trực tiếp:
Cấp ủy Đảng lãnh đạo,
ủy ban nhân dân xã xây dựng phương án, chương
trình, kế hoạch. ủy ban nhân dân xã phối hợp
với ủy ban Mặt trận Tổ quốc chỉ
đạo, tổ chức nhân dân bàn, quyết định
bằng một trong các hình thức :
1. Họp nhân dân ở từng thôn, làng,
ấp, bản thảo luận và biểu quyết công khai
hoặc phiếu kín, lập biên bản gửi ủy ban
nhân dân xã.
2. Họp chủ hộ bàn, biểu
quyết công khai hoặc phiếu kín, lập biên bản
gửi ủy ban nhân dân xã.
Các cuộc họp nói trên được
tiến hành khi có ít nhất hai phần ba số
người (hoặc hộ) trong diện họp tham
dự.
3. Nếu không tổ chức họp
được thì phát phiếu lấy ý kiến của
hộ gia đình.
Nếu đa số nhân dân hoặc chủ
hộ đồng ý thì ủy ban nhân dân xã tổ chức
thực hiện có sự giám sát, kiểm tra của Ban thanh
tra nhân dân xã hoặc ban giám sát công trình do dân cử. Nhân dân có
nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các quyết
định được đa số đồng ý.
Nếu xét thấy quyết định của đa số
không phù hợp với luật pháp và các quy định
của chính quyền địa phương thì ủy ban
nhân dân xã đề nghị ủy ban nhân dân huyện xem xét,
quyết định.
CHƯƠNG IV
NHỮNG
VIỆC NHÂN DÂN BÀN, THAM GIA Ý KIẾN,
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ QUYẾT
ĐỊNH
Điều 9. Những
việc chủ yếu đưa ra nhân dân bàn hoặc tham
gia ý kiến trước khi Hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân xã quyết định (hoặc trình
cấp có thẩm quyền quyết định) gồm có:
1. Dự thảo quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, hàng
năm của xã, phương án chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và
phương án phát triển ngành nghề, giải quyết
việc làm cho người lao động.
2. Dự thảo quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai ở địa
phương và việc quản lý sử dụng có hiệu
quả quỹ đất công ích ở địa
phương.
3. Dự thảo quy hoạch khu dân cư và
đề án định canh, định cư, vùng kinh
tế mới. Kế hoạch và dự án huy động và
sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân
để đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng do xã quản lý.
4. Dự thảo đề án phân vạch,
điều chỉnh địa giới hành chính xã,
đề án chia, tách, thành lập thôn, làng, ấp, bản.
5. Dự thảo kế hoạch triển
khai các chương trình quốc gia về y tế,
nước sạch, vệ sinh môi trường.
6. Chủ trương, phương án
đền bù giải phóng mặt bằng.
7. Giới thiệu người ứng
cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã.
8. Những việc khác Hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân thấy cần thiết.
Điều 10.
Phương thức thực hiện những việc nhân
dân bàn, tham gia ý kiến, Hội đồng nhân dân, ủy
ban nhân dân quyết định (hoặc trình cấp có
thẩm quyền quyết định).
Căn cứ Nghị quyết của
cấp ủy, Nghị quyết của Hội đồng
nhân dân xã, ủy ban nhân dân xã dự thảo các văn
bản, kế hoạch, phương án và phối hợp
với ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, các
đoàn thể nhân dân tổ chức lấy ý kiến công
khai dưới các hình thức:
1. Phát phiếu thăm dò ý kiến từng
hộ gia đình.
2. Họp nhân dân hoặc chủ hộ thôn,
làng, ấp, bản thảo luận, lập biên bản
gửi ủy ban nhân dân xã.
3. Họp các đoàn thể, các tổ
chức kinh tế để thảo luận, ghi biên
bản gửi ủy ban nhân dân xã.
4. Đặt hòm thư góp ý, ủy ban nhân
dân xã tổng hợp ý kiến.
Kết quả hội nghị và thăm dò ý
kiến của nhân dân phải được báo cáo
đầy đủ, khách quan để ủy ban nhân dân xã
xem xét, tổng hợp trình Hội đồng nhân dân xã
quyết định theo thẩm quyền hoặc trình
cấp trên xem xét.
CHƯƠNG V
NHỮNG
VIỆC NHÂN DÂN GIÁM SÁT, KIỂM TRA
Điều 11.
Những việc nhân dân ở xã giám sát, kiểm tra gồm
có:
1. Hoạt động của Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân xã.
2. Kết quả thực hiện Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân và quyết
định của ủy ban nhân dân xã.
3. Hoạt động của đại
biểu Hội đồng nhân dân xã, của cán bộ
ủy ban nhân dân và cán bộ, công chức Nhà nước
hoạt động tại địa phương.
4. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo của công dân.
5. Dự toán và quyết toán ngân sách xã.
6. Kết quả nghiệm thu và quyết toán
công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chương
trình dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân
đầu tư tài trợ trực tiếp cho xã.
7. Quản lý và sử dụng đất
đai.
8. Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo
quy định của Nhà nước, các khoản đóng
góp của nhân dân.
9. Kết quả thanh tra, kiểm tra,
giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng
liên quan đến cán bộ xã.
10. Việc thực hiện chế
độ chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ
thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ,
những người và gia đình có công với nước,
chính sách bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội.
Điều 12.
Phương thức thực hiện những việc dân
giám sát, kiểm tra :
1. Nhân dân giám sát hoạt động và tư
cách đại biểu Hội đồng nhân dân, các thành
viên ủy ban nhân dân. Có quyền kiến nghị, khiếu
nại, tố cáo các hành vi xâm phạm quyền làm chủ
của nhân dân, vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu
cực của đại biểu Hội đồng nhân
dân và các thành viên ủy ban nhân dân.
2. Các kỳ họp của Hội
đồng nhân dân xã mời đại diện các tổ
chức đoàn thể tham dự và mời đại
diện nhân dân dự thính.
3. Thông qua các tổ chức : ủy ban
Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ,
Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội
Người cao tuổi.
4. Thông qua ban thanh tra nhân dân được
thành lập và hoạt động theo pháp luật.
5. Uỷ ban nhân dân xã chịu trách nhiệm
tổ chức việc tiếp dân, giải quyết kịp
thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo
của công dân theo đúng quy định của pháp
luật.
6. Khi phát hiện có dấu hiệu tham
nhũng, tiêu cực, sử dụng sai mục đích, lãng
phí trong việc thu, chi ngân sách, các khoản đóng góp, các
loại quỹ và quản lý đất đai, nhân dân có
quyền yêu cầu làm rõ, Hội đồng nhân dân, ủy
ban nhân dân, người quản lý trực tiếp phải
cung cấp và giải trình đầy đủ các việc
nói trên mà không có bất cứ một hạn chế nào.
CHƯƠNG VI
XÂY
DỰNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ THÔN, LÀNG, ẤP,
BẢN
Điều 13.
Thôn, làng, ấp, bản không phải là một cấp chính
quyền, nhưng là nơi sinh sống của cộng
đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ
một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải
quyết các công việc trong nội bộ cộng
đồng dân cư, bảo đảm đoàn kết,
giữ gìn trật tự an toàn xã hội và vệ sinh môi
trường; xây dựng cuộc sống mới;
tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất
và đời sống; giữ gìn, phát huy truyền thống
tốt đẹp và thuần phong mỹ tục của
cộng đồng nhằm thực hiện tốt các
chủ trương của Đảng, pháp luật của
Nhà nước; thực hiện tốt quyền, nghĩa
vụ công dân và nhiệm vụ cấp trên giao.
Điều 14.
Hội nghị thôn, làng, ấp, bản được
tổ chức sáu tháng một lần hoặc bất
thường gồm toàn thể cử tri hoặc chủ
hộ do trưởng thôn, làng, ấp, bản phối
hợp với ban công tác Mặt trận, các tổ chức
đoàn thể triệu tập và chủ trì nhằm :
1. Thảo luận và quyết định
các công việc của nội bộ cộng đồng dân
cư về sản xuất, xây dựng cơ sở hạ
tầng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,
đoàn kết tương trợ, giúp đỡ nhau trong
sản xuất và đời sống, những vấn
đề về văn hóa, xã hội, vệ sinh môi
trường, an ninh, trật tự an toàn xã hội phù
hợp pháp luật Nhà nước.
2. Bàn biện pháp thực hiện nghị
quyết của Hội đồng nhân dân xã, các quyết
định của ủy ban nhân dân xã, nghĩa vụ công
dân và nhiệm vụ cấp trên giao.
3. Thảo luận, góp ý kiến về báo
cáo kết quả công tác và tự phê bình, kiểm
điểm của trưởng thôn, làng, ấp, bản,
của Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ
tịch ủy ban nhân dân xã.
4. Bầu, cho thôi chức trưởng thôn,
làng, ấp, bản; xây dựng hương ước, quy
ước; cử các ban, nhóm tự quản, ủy viên thanh
tra nhân dân.
Nghị quyết của hội nghị có
giá trị khi có ít nhất quá nửa số người
dự họp tán thành và không trái với pháp luật.
Điều 15.
Trưởng thôn, làng, ấp, bản là đại diện
cho cộng đồng dân cư và ủy ban nhân dân xã,
chịu sự quản lý và chỉ đạo của
ủy ban nhân dân xã. Trưởng thôn, làng, ấp, bản do
nhân dân bầu và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã công
nhận.
Trưởng thôn, làng, ấp, bản có
nhiệm vụ và quyền hạn :
1. Hướng dẫn, đôn đốc,
tổ chức, vận động nhân dân thực hiện
nghĩa vụ và quyền công dân, nghị quyết của
Hội đồng nhân dân, các quyết định của
ủy ban nhân dân và các công việc được ủy ban
nhân dân xã ủy nhiệm.
2. Phối hợp với ban công tác Mặt
trận thôn, làng, ấp, bản chủ trì cuộc họp
của thôn, làng, ấp, bản; tổ chức thực
hiện các quyết định của cộng đồng
dân cư.
3. Phối hợp với các tổ chức
kinh tế, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn
thể, các hội hướng dẫn nhân dân phát triển
kinh tế, cải thiện đời sống, giữ gìn
trật tự an toàn xã hội, xây dựng cơ sở
hạ tầng thôn, làng, ấp, bản.
4. Phối hợp với ban công tác Mặt
trận ở thôn, làng, ấp, bản hướng dẫn
hoạt động của các ban hòa giải, ban an ninh,
bảo vệ sản xuất, ban kiến thiết.
5. Phát hiện và báo cáo kịp thời
với ủy ban nhân dân xã những hành vi vi phạm pháp
luật, xâm phạm lợi ích và quyền tự do dân
chủ của công dân.
6. Định kỳ sáu tháng báo cáo công tác và
tự phê bình, kiểm điểm trước hội
nghị thôn, làng, ấp, bản.
7. Được tham dự các lớp
tập huấn, bồi dưỡng, được
hưởng phụ cấp theo quy định của
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương quy định cụ
thể nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm kỳ và
phụ cấp của trưởng thôn, làng, ấp,
bản.
Điều 16.
Thôn, làng, ấp, bản xây dựng hương ước,
quy ước về công việc thuộc nội bộ
cộng đồng dân cư, kế thừa và phát huy
thuần phong mỹ tục của cộng đồng, phù
hợp với quy định của pháp luật nhằm
bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn
xã hội, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn
minh. Hương ước, quy ước do nhân dân xây
dựng, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã
đề nghị và Chủ tịch ủy ban nhân dân
huyện phê duyệt hương ước, quy ước
đó.
Điều 17.
Thôn, làng, ấp, bản có thể thành lập các ban hòa
giải, ban an ninh, tổ bảo vệ sản xuất, ban
kiến thiết. Các tổ chức này do dân bầu,
trưởng thôn, làng, ấp, bản phối hợp
với ban công tác Mặt trận quản lý và chỉ
đạo.
CHƯƠNG VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 18.
Các cấp, các ngành có trách nhiệm xây dựng chính quyền
cơ sở trong sạch, vững mạnh, hiệu lực,
hiệu quả. Khắc phục biểu hiện quan liêu,
thiếu trách nhiệm, mất dân chủ trong giải
quyết các công việc.
Điều 19.
Thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ cán
bộ ở cơ sở. Có kế hoạch bồi
dưỡng, đào tạo về trình độ văn hóa,
chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và
phương pháp công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
Điều 20.
Cán bộ chính quyền các cấp và nhân dân có nghĩa vụ
chấp hành nghiêm chỉnh những quy định trong Quy
chế này.
Điều 21. Các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
phải tổ chức chỉ đạo điểm và
triển khai mở rộng một cách vững chắc.
Điều 22.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm
chỉ đạo thực hiện Quy chế này. Hàng quý,
Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp dưới báo cáo
kết quả thực hiện với Chủ tịch
ủy ban nhân dân cấp trên, sáu tháng một lần, Chủ
tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương báo cáo Chính phủ (thông qua Ban
Tổ chức - Cán bộ Chính phủ) kết quả
thực hiện Quy chế.
Điều 23.
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ có trách nhiệm
chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi thực
hiện Quy chế này. Bộ Tài chính có trách nhiệm chỉ
đạo, hướng dẫn các cơ quan chuyên môn
cấp dưới kiểm tra tài chính và thu chi ngân sách
của xã, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho
cán bộ tài chính xã. Thanh tra Nhà nước có trách nhiệm
hướng dẫn công tác thanh tra, kiểm tra ở xã,
bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ
cho ban thanh tra nhân dân xã. Bộ Tư pháp và Bộ Văn hóa -
Thông tin có trách nhiệm hướng dẫn xây dựng các
hương ước, quy ước thôn, làng, ấp,
bản.
Điều 24.
Đề nghị ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chỉ
đạo hướng dẫn, kiểm tra cấp
dưới thực hiện tốt nhiệm vụ
được quy định trong Quy chế này.
Điều 25.
Trong quá trình thực hiện Quy chế, các tổ chức,
cá nhân có thành tích sẽ được khen thưởng; các
tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xử lý theo
quy định của pháp luật hiện hành.