|
NHÀ LỚN LONG SƠN
LƯỢC SỬ VỀ XÃ ĐẢO LONG SƠN VÀ ÔNG TRẦN
 |
|
Núi Nứa - Long Sơn
|
Du khách trên đường từ Thành phố Hồ Chí Minh qua Bà Rịa tới Vũng
Tàu, khi nhìn về biển khơi. đón những ngọn gió mát, lành sẽ thấy một dãy núi
nhấp nhô uốn lượn hình con Rồng. Đó là xã đảo với tên gọi thật hình tượng : Long
Sơn, được bao bọc bởi bốn bề sông nước mênh mang : Rạch Bến Đá; Rạch Rạng, sông
Ba Nanh, sông Chà Và, Vịnh Gềnh Rái. Với diện tích hơn 90km2, Long
Sơn tựa như một cù lao nổi bật giữa màu xanh ngút ngàn của thảm rừng ngập mặn
nhiệt đới. Theo đường chim bay, đảo Long Sơn chỉ cách Vũng Tàu hơn 3km. Việc
giao lưu giữa đảo và đất liền chỉ bằng ghe thuyền và phụ thuộc vào con nước. Tuy
không phải là hải đảo xa xôi, nhưng bị ngăn cách bởi "biên giới tự nhiên" ấy hạn
chế sự phát triển của xã đảo vốn là khu căn cứ cách mạng của miền Đông Nam bộ.
Điều thú vị luôn hấp dẫn và thu hút du khách khi đến Long Sơn chính là phong
cảnh thiên nhiên còn đầy nét hoang sơ, và đặc biệt cư dân đảo Long Sơn văn giữ
những sắc thái văn hóa cổ sơ. Những công trình kiến trúc, những tục lệ, lễ nghi
hội hè gắn liền với một phong cách đặc biệt thường gọi là "Đạo ông Trần", cho
đến bây giờ đến đây người ta vẫn cảm thấy như lạc vào một xứ sở xa xưa nào :
Những đền đài miếu mạo trang nghiêm, những người đàn ông: áo dài đen, đầu búi
tóc, nhà nhà bàn thờ nhiều hơn giường tủ...
Cù lao Long Son là vùng đất có nhiều tiềm năng chưa được khai
thác, xưa kia trên núi Long Sơn tre nứa xanh tốt bốn mùa nên nó đã mang tên là
xã Sơn Long, làng Núi Nứa, từ năm 1962 đổi là xã Long Sơn . Ngày nay xã Long Sơn
thuộc Thành phố Vũng Tàu.
Vì Long Sơn án ngự cửa các con sông lớn của miền Đông Nam bộ, cho
nên bao quanh đảo là vòng đai các bãi bồi và sình lầy bị chia cắt bởi hàng trăm
kênh rạch. Tương ứng với vành đai bãi bồi, sình lầy là thảm thực vật của rừng
ngập mặn nhiệt đới mà ta quen gọi là rừng sác, đước, sú vẹt, mắm, bến chà là...
cùng các loại động vật như bồ nông, sếu, diệc, cò, hải âu, bìm bịp, le le...
dưới nước có sò huyết, cá tôm, cua, nghêu... với nhiều loại khác nhau.
Địa hình của đảo bị chia cắt thành hai khu riêng biệt, khu vực
đảo lớn và khu bãi bồi Gò Găng... Hai khu ngăn cách nhau bởi con sông nước mặn
rộng chừng 500m. Nói tới Long Sơn là nói tới một đảo lớn, vì hầu như toàn bộ đời
sống dân cư, văn hóa xã hội đều tập trung ở đảo này.
Sơ lược lịch sử làng Núi Nứa, ấp Bà Trao.
Theo lịch sử, trong cuộc Nam tiến của dân tộc Việt, lớp người
Việt đầu tiên đến định cư ở Mô Xoài - Bà Rịa là những di dân tự phát đi theo
đường biển. Sau này các chúa Nguyễn còn tổ chức nhiều đợt di dân khác nhằm khai
phá đất đai mở rộng bờ cõi. So với nơi khác ở Nam bộ, người Việt đến cư trú ổn
định lâu dài ở Long Son muộn hơn. Biển Long Sơn rất giàu, nhưng rừng Long Sơn
xưa kia lắm cát và nhiều cọp dữ. Do nhiều nguyên nhân về địa lý, khí hậu, mà có
lẽ chủ yếu do trên đảo hiếm nguồn nước ngọt, cho nên trên đảo Long Sơn không có
vết tích di chỉ của người nguyên thủy. Ở khu vực phía Bến Điệp - Rạch Bà có dấu
tích bến ghe cổ của người Chà Và. Khu Gò Găng có dấu tích của người Khơme là
những cư dân đầu tiên đến cư ngụ sinh sống ở đây trước người Việt. Long Sơn chủ
yếu được mở mang dưới thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1820 - 1840). Lớp cư dân
người Việt có mặt tại đảo là những người lính thú do triều Nguyễn phải tới đóng
đồn tại Bến Điệp để canh phòng cửa ngõ ra vào thành Gia Định và miền Đông Nam bộ,
ngăn chặn bọn hải tặc xâm nhập. Những người lính này ngoài nhiệm vụ tuần phòng,
canh giữ, họ còn làm nhiệm vụ khai phá đất đai, khẩn hoang theo chính sách "khuyến
nông" của Triều đình lúc đó. Sau khi giải ngũ họ trở thành những người dân lập
nghiệp tại đảo, đem theo vợ con hay bà con họ hàng tới định cư sinh sống trên
những vùng đất mới. Số dân cư này trú ngụ chủ yếu ở khu bến Điệp, phía Bắc Đảo,
vì đây là khu tương đối trũng dễ tích tụ nước mưa, đất đá_lại bằng phẳng rộng
rãi thuận lợi cho việc chăn nuôi, trồng trọt, làm muối và đánh bắt hải sản.
Dân cư ở khu vực phía Bắc đảo hình thành theo chòm, xóm, các nhà
ở rải rác cách biệt dựa vào kinh tế tự nhiên là chủ yếu. Cuộc sống bình dị, đơn
giản mang tính - tự cung tự cấp. Vào cuối thế kỷ 19, ta đảo đã hình thành
đơn vị hành chính đầu tiên gồm 3 ấp Bến Điệp - Bến Đá và Rạch
Bà thuộc làng Núi Nứa, tổng An Phú Hạ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Khu vực phía Nam đảo khi đó vẫn chưa có người khai phá, rừng rậm
bao phủ và nhiều thú dữ, cùng những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nắng hạn
thiếu nguồn nước, đất đai chật hẹp, muỗi mòng, rắn rết... Cuối thế kỷ 19 đã có 2
người đến đây "lập lân" (lập hội múa lân để chiêu mộ người đến khai hoang) nhưng
đều chịu không nổi phải bỏ đi. Tuy nhiên, cũng có một vài người không quản gian
khổ, quyết chí trụ lại sinh cơ lập nghiệp. Đó là bà Trao, ông Thiệu. Cư dân đông
đúc dần, nhiều người đến dựng nhà, vỡ hoang, đánh bắt hải sản quanh vùng. Khi bà
Trao qua đời, tên của bà được đặt cho vùng đất do bà khai phá, sau này mở
rộng thành ấp Bà Trao (chỗ đến đài, trụ sở xã bây giờ). Bà cũng được nhân
dân trong vùng lập miếu thờ vào năm 1923, tới nay vẫn còn.
Tuy nhiên, cả một vùng đất phía Đông, dưới chân núi Nứa vẫn hoang
vu rậm rạp, tới năm 1900 mới có một người xưng danh là ông Trần dẫn đầu một đoàn,
khoảng hai chục người trên một chiếc xuồng và các "túi đựng bầu trời đất" chính
thức xin "lập lân" chiêu mộ bốn phương đến khai hoang mở đất, hình thành một khu
dân cư mới với những phong tục tập quán khác lạ.
Xã đảo Long Sơn ngày nay còn bảo lưu nhiều phong tục cổ xưa với
cảnh trí thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng những nếp nhà kiến trúc theo lối cổ
có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với khách du lịch Trong đó khu di tích nghệ thuật Nhà
Lớn với kiểu dáng, bố cục kiến trúc theo lối phương Đông tựa kiểu đình làng Việt
Nam đã được biến cách là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của khu dân cư
phía Đông Nam đảo. Tới Long Sơn du khách thường được nghe những mẩu chuyện về
cách thức điều hành công việc, lối ứng xử thường ngày vừa bình dị mộc mạc vừa
pha chút thần bí có liên quan đến một nhân vật mà ở Long Sơn mọi người dân từ
già tới trẻ đều kính trọng tôn sùng gọi là "ông Cố", còn nhân dân các nơi xa gần
gọi "ông cố" bằng danh từ cũng không kém phần nể trọng : ông Trần. Vậy "ông Trần"
là ai mà thân thế, sự nghiệp và công đức của ông đều gắn bó mật thiết với lịch
sử hình thành, phát triển văn hóa - xã hội của khu vực Đông Nam đảo Long Sơn ?
Trả lời thấu đáo được câu hỏi trên là một điều thật không mấy dễ đàng. Bởi lẽ do
một qui ước chung nào đó mà những người theo tín ngưỡng ông Trần phần lớn không
muốn tiết lộ thông tin về nguồn gốc cũng như những hoạt động tín ngưỡng của dòng
tộc vì e ngại bề trên quở trách. Để có được những tư liệu xác đáng, góp phần tìm
hiểu về tiểu sử ông Trần và quá trình hình thành cư dân theo tín ngưỡng của ông,
cùng lịch sử xây dựng, khu di tích Nhà Lớn, chúng tôi đã áp dụng nhiều phương
pháp khai thác, nghiên cứu khác nhau : Phỏng vấn nhân chứng, khảo sát thực địa,
điều tra xã hội học, dân tộc học, tổ chức tọa đàm xác minh sự kiện lịch sử...
Đồng thời có tham khảo, kế thừa một số công trình nghiên cứu, bài viết giới
thiệu về Long Sơn trong đó có đề cập đến cư dân theo tín ngưỡng ông Trần
(1)
______________
(1) Quá trình khảo cứu khoa học về Long Sơn cho thấy:
Tín ngưỡng ông Trần thực chất là 1 đạo giáo đặt thù cả về qui mô phát triển và
giáo lý, tín đồ. Nhưng vì thế theo ý kiến của đồng bào và chính quyền địa phương
chúng tôi tạm gọi là: Tín ngưỡng ông Trần.
Ông Trần - người tổ chức khẩn hoang
và lập ấp ở khu vực Đông Nam đảo Long Sơn :
Ông Trần tên thật là Lê Văn Mưu, sinh năm Ất Mão (1855) tại ấp
Thiện Khánh, tổng Hà Thanh, quận Giang Thành, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc Kiên Giang),
thân phụ ông là Lê Văn T. dòng dõi của ông Lê Văn T., người có công lập nên đồn
Giang Thành xưa kia, nay trở thành địa danh huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Thân Mẫu là bà : Đỗ Thị Ng. cùng người ở Giang Thành. Lê Văn Mưu là con thứ hai
trong số bảy người con của gia đình. Ông có một người anh, hai em gái và ba em
trai. Thời niên thiếu và tuổi thanh niên của ông Trần trải qua trong bối cảnh
lịch sử đầy thăng trầm của đất nước. Từ năm 1867 ba tỉnh miền Tây Nam Bộ bị thực
dân Pháp chiếm đóng có nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra nhưng đều thất bại.
Các phong trào cần vương yêu nước bị quân xâm lược đàn áp khốc liệt - Nhưng tinh
thần quật khởi của người dân Nam bộ và khí phách kiên trung của các lãnh tụ
phong trào khởi nghĩa đã ảnh hưởng, tác động tích cực tới tư tưởng ông Mưu - đặt
biệt là cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa Láng Linh (1867-1873) do chánh quản cơ Trần Văn
Thành lãnh đạo đã cuốn hút ông tham gia phong trào yêu nước này. Vùng đất nơi
ông Mưu sinh trưởng chịu nhiều ảnh hưởng của đạo giáo "Bủu Sơn kỳ hương" do Phật
thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807 - 1856) sáng lập và sau này là đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa do Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831 - 1890) lập ra nhằm phát triển giáo lý của
Phật thầy Tây An khuyến tu "Tứ đại trọng ân" là : ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước,
ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Hai đạo giáo trên đều lấy đạo Phật làm gốc,
xen lẫn đạo Nho và phát triển chủ thuyết của những vị sáng lập - thánh địa của
đạo giáo ở vùng Thất Sơn (Bảy Núi) (1) ; từ đó các đệ tử giáo phái được điều
động đi khắp nơi mở đất truyền đạo, thu phục tín đồ, mở mang đạo lý. Tư tưởng
của hai đạo giáo này cũng tác động không nhỏ tới việc hình thành tính cách của
chàng trai Lê Văn Mưu.
______________
(1) Vùng Thất Sơn nay thuộc tỉnh An Giang.
Năm 20 tuổi (1874) ông Mưu lấy vợ là bà : Đoàn Thị Ng., quê ở
Vĩnh Gia, Châu Đốc, về sau lần lượt vợ chồng ông sinh được ba người con là : Lê
Văn Ph., Lê Văn Th. và Lê Thị M. Năm ngoài 30 tuổi ông Mưu đi học thầy đạo Hiếu
Nghĩa và trở thành đệ tử của Đức Bổn Sư. Sau khi thụ huấn được một năm thì vùng
núi Tượng, nơi ông học đạo bị thực dân Pháp triệt phá (1887), từ đó Đức Bổn Sư
và các tín đồ phải ẩn lánh. Để tránh sự khủng bố của Pháp, ông Lê Văn Mưu đi về
miền Đông Nam bộ lánh nạn và mở đạo. Ông được thầy đạo ban cho một cái bầu trời
đất dùng để lập Giang Sơn, sửa Đạo Pháp. Ông không biết chữ nhưng thuộc nằm lòng
nhiều câu sấm, vần vè bí hiểm. Thêm vào đó là cái tật đặc biệt : Chân trái ngắn
hơn chân phải và nghề bốc thuốc trị bệnh rất giản dị bằng ba bông vạn thọ phơi
khô hợp với ba cây nhang tượng trưng cho tam hoang (Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân
hoàng), bẻ làm năm khúc tượng trưng cho ngũ đế (Phục hy, Thần nông nông, Hoàng
đế, Nghiêu, Thuấn) gói lại làm một, sắc chung với lá bùa bằng giấy vàng hòa vào
nước cho bệnh nhân "trong uống ngoài xoa bóp". Trước khi đi mở đất, ông Mưu muốn
đưa cả vợ con đi theo. Nhưng vợ ông không muốn đi tới vùng đất lạ. Bà nói "Thà
lìa tử chứ không lìa quê". Do đó việc di cư phải đình lại cho tới khi bà Ng. qua
đời. Việc chọn địa điểm định cư ở miền Đông là do ông Lê Văn Tám (chú em út của
ông Mưu) đáp thuyền đến Vũng Vằng (Bà Rịa) ở chơi thăm dò trước rồi trở về nhà
đón mấy người trong gia tộc cùng đi. Vì vậy ngày nay có bàn thờ ông Tám tại nhà
tiên sư (Long Sơn hội).
Năm 1891 ông Lê Vản Mưu cùng gia quyến tới định cư tại Vùng Vằng
(1) sinh sống bằng nghề bốc thuốc chữa bệnh, làm muối, bán muối tại
chỗ hoặc chở về miền Tây đổi lấy thóc gạo. Nhờ thông thạo tiếng Khơme nên ông
còn chở ghe muối đến tận Phnom Penh (Campuchia) bán và đổi lúa. Theo cách giải
thích của người dân Long Sơn gọi "ông Trần" là vì ông quá nghèo khổ, không có áo
bận nên phải ở trần, chỉ là cách để giấu kín tung tích của ông ?
Sau một thời gian làm ăn phát đạt, ông Trần tổ chức
về quê đón số bà con họ hàng tới Vũng Vằng định cư sinh sống. Nhân dân xa gần
truyền tụng ông bốc thuốc chữa bệnh giỏi nên người đến xin thuốc, xin được làm
ăn sinh sống và theo ông ngày càng đông đúc. Trong suốt tám năm sản xuất và buôn
bán muối, ông Trần chưa phải đóng thuế. Sau chính quyền Pháp ở Bà Rịa bắt phải
nộp thuế, đồng thời truy thu số thuế những năm trước, thêm vào đó số người tôn
sùng gia tăng, ông phải đưa cả gia đình lánh sang Rạch Dừa (Phước Thắng)(2)
tiếp tục nghề làm muối và bốc thuốc trị bệnh.
___________________
(1)Vũng
Vàng là tên gọi vũng biển ở phía Đông Bắc thị xã Bà Rịa ngày nay
(2)
ấp Rạch Dừa này thuộc phường 10. thành phố Vững Tàu.
Ở Rạch
Dừa được một thời gian ông Trần lại bị người Pháp truy thuế và dồn ép khiến việc
làm án không phát triển được. Ông bèn tính chuyển dời nhà tới nơi hoang vắng,
cách biệt để dễ b làm ăn, truyền đạo, thu phục tín đồ ngõ hầu lập ra một giang
sơn riêng biệt. Ông Trần giao cho chú em út Lê Văn Tám đi thăm dò tìm nơi ở mới
ông Tám vâng lời, đóng thuyền di tìm. Tới Cù lao Bà Trao, Núi Nứa ở về phía Bắc
thành phố Cap Saint Jaques ông Tám thấy nơi này cách biệt với đất liền, đất
rộng, rừng ngập mặn và rừng trên núi cây cối xum xuê rậm rạp, dân cư thưa thớt.
Đặc biệt khu vực phía Đông Nam đảo chưa có người khai phá, có thể đáp ứng được
yêu cầu mà ông Trần đặt ra. Sau khi nghe ông Tám tường trình lại những thuận an
về vùng đất mới, ông Trần quyết định đưa gia tộc tới định cư lâu dài tại khu vực
Đông Nam đảo, dưới chân núi Nứa, nơi chưa có người khai phá để tránh sự kiểm
soát chặt chẽ của chính quyền Pháp. Lúc đó là năm Canh Tý (1900). Ban đầu ông
cho cất một chòi tranh ba gian hai chòi dưới gốc cây xoài lớn (khu nhà khách
hiện nay) làm chỗ ở tạm cho gia đình, rồi khởi sự khai khẩn vùng đất hoang chung
quanh.
Khi ông Trần cùng với khoảng 20 người trong gia
tộc tới đinh cư dưới chân phía Đông Núi Nứa, từ ở khu vực phía Bắc đảo đã có
trên một nghìn dân tới ở từ trước và đảo có địa danh là làng Núi Nứa. Theo thống
kê của người Pháp trong cuốn "Monog- raphie de la Frovince de Baria et de la
ville du Cap Saint - Jacques", thì vào nám 1901 dân số của làng Núi Nứa là 1.107
người. Đây là một trong những làng đông dân nhất của tổng An Phú Hạ (Bà Rịa),
cũng theo sách trên miêu tả "lấy Núi Nứa nằm trên một hòn đảo, đây là vùng được
bồi đắp bỏi nhiều nhánh sông Đồng Nai. Ở giữa đảo nổi lên một ngọn núi cao 180m,
nơi đó người ta khai thác đá. Dân ở đây sinh sống bằng nghề đốn củi đuốc để làm
than, vì cây đước thích hợp trên vùng đầm lầy đó. Ngoài ra họ còn làm nghề đánh
bắt cá và làm muối, ruộng chiếm tới 27ha".
Khu vực Đông Nam đảo khi đó vẫn chưa có người
khai phá. Rừng rậm bao phủ, nhiều_ thứ dữ, cùng những điều kiện. thiên nhiên
khắc nghiệt : Nắng hạn, thiếu nguồn nước ngọt, đất đai dưới là sình lầy nhiễm
mặn trên thì sỏi đá khô cằn... ông Trần qui tụ số người đi theo tổ chức khai phá
đất đai làm ruộng muối, ruộng lúa và đánh bắt hải sản. Ông tạo dựng cơ nghiệp
bằng sự kết hợp cả tín ngưỡng do ông truyền dạy với sức lao động cần cù và tài
nghệ về tổ chức xây đựng. Tương truyền ông Trần thường mặc quần cụt, để mình
trần, búi tóc (vì ông và những người theo ông có tục lệ để tóc dài theo truyền
thống xưa của tổ tiên), đội nón lá, lại thông thạo nghề nông và có uy tín trong
việc qui tụ dân khai hoang. Thường ngày ông không ăn cơm và chỉ ăn trái cây và
đậu xanh (vì xái đậu thành binh). Về thức ăn, không ăn thịt cá mà chì ăn cua
(cho hết cái giống chỉ đi ngang), tôm (là giống chỉ đi lui, không đi tới), ốc
(là giống ăn ở miệng, tiêu ra miệng).
Sau khi đã khai phá một số đất đai, để tính
chuyện an cư lập nghiệp lâu dài, ông Trần xin được qui dân lập ấp. Trước đây,
người con thứ hai của ông là Lê Văn Th. (Ba Th) đã kết hôn với con gái ông Cả
Ngân, vị hương chức của làng Núi Nứa nhà ở ấp Bến Đá (khu vực Ngã Tư, phía Bắc
đảo). Được ban hương chức làng và chính quyền Pháp chấp thuận, ông đứng ra qui
tập dân ở các nơi, nhất là miền Tây Nam bộ đến khai phá đất đai, mở mang nghề
nghiệp, phát triển kinh tế, hình thành một đơn vị hành chính mới với tên gọi Ấp
Bà Trao thuộc làng Núi Nứa (1).
___________________
(1)Cuối
thế kỷ 19 làng Núi Nứa có 3 ấp (Bến Điệp, Bến Đá và Rạch Già) thuộc tổng An Phú
Hạ, tỉnh Bà Rịa.
Trận bão năm Giáp Thìn (1904) thật sự là cơn
cuồng phong mãnh liệt đã tàn phá suốt dải ven biển Nam bộ gây nên nạn lụt lội,
thiệt hại lớn về nhà cửa hoa màu cho dân chúng. Ông Trần xuất 7 thiên lúa
(7.000 giạ lúa) cho những người thân tín mang về Gò Công, Cai Lậy, Mỹ Tho... cứu
trợ và đón người bị nạn lũ lụt về Bà Trao cư trứ làm ăn. Tiếng lành đồn xa về
một "Người Trời" được Trời Phật phái xuống "cứu nhân độ khổ" đang ở Bà Trao lan
ra lục tỉnh. Các tầng lớp nhân dân nô nức bảo nhau tới ấp Bà Trao lập nghiệp.
Ông Trần thu nhận, giao đất khẩn hoang cho bất cứ ai, không phân biệt giàu
nghèo, sang hèn miễn là chịu tuân theo những điều răn dạy của ông. Trước làn
sóng di cư ào ạt, dân số của ấp Bà Trao tăng lên nhanh chóng (tăng cơ học). Dưới
sự hướng dẫn, chỉ đạo của ông Trần, những người dân theo tín ngưỡng do ông sáng
lập đã khai phá đất đai, hình thành các khu ruộng theo kiểu bậc thang để tận
dụng địa hình chân núi xuôi thẳng ra biển của khu vực. Dưới là sông, biển, kênh
rạch làm đường giao thông và đánh bắt hải sản, kế tiếp là đùm chứa nước biển làm
muối và nuôi trồng thủy sản. Cao hơn là khu ruộng mặn (ruộng muối), ruộng ngọt
(ruộng trồng lúa nước). Chân núi làm đất thổ cư, trên sườn núi được khai phá
thành nương rẫy trồng cây ăn quả lưu niên và hoa màu. Những người theo ông Trần
còn bỏ công sức xây dựng hệ thống thủy nông, đào kênh Bến Kinh, nạo vét bùn đất
mở rộng rạch Cá Đối, đắp đê ngăn nước mặn tại khu vực đồng Bà Cúc, làm thêm
ruộng muối, sắm ghe thuyền đánh bắt hải sản và buôn bán, trao đổi hàng hóa với
các vùng lân cận. Cư dân theo ông Trần cư trú thành tập đoàn quần tụ trong khu
vực phía Đông Núi Nứa. Họ xây dựng nhà cửa theo những lớp vành khăn ôm lấy chân
núi và có quan hệ thân thuộc với nhau.
Ông Trần đối xử với dân bình đẳng và khiêm
nhường. Ông tự xưng là "người này", gọi người khác là "người lớn" hoặc người
nhỏ" tuỳ theo tuổi tác của họ. Buổi tối sau những giờ lao động mệt nhọc, khi
việc nhà đã được lo liệu xong, ông thường tập trung dân tại nhà thánh để nghe
đọc truyện hoặc kể truyện về những gương trung hiếu, tiết nghĩa trong lịch sử
Việt Nam và lịch sử Trung Quốc. Mỗi khi nghe xong một câu chuyện, ông Trần
thường cắt nghĩa cặn kẽ cho người nghe. Những buổi tập trung sinh hoạt văn hóa
tại nhà thánh còn là dịp để ông Trần đứng ra phân xử, hòa giải những mâu thuẫn,
va chạm xích mích của người dân theo ông. Đồng thời ông khuyên bảo họ ăn hiền ở
lành, làm việc thiện, tránh việc ác (1) khơi gợi cho họ lòng yêu
nước, tự hào dân tộc. Giữ gìn những phong tục tập quán của cha ông, không hợp
tác với thực dân xâm lược. Ông Trần còn làm thuốc để chữa trị bệnh cho dân rất
được tín nhiệm. Những người từ nơi khác đến đều được ông thu nhận, cho ở trong
những đãy nhà dành cho bá tánh (dãy phố) và khoanh đất, cấp dụng cụ, vốn liếng
cho họ làm ăn trong vài ba năm. Chừng nào đã đủ sống thì cất nhà ra ở riêng. Mọi
người dân theo ông đều sinh hoạt bình đẳng, không phân chia ngôi thứ, tầng lớp.
Họ sống tự giác và hòa thuận theo những qui ước chung do ông Trần đặt ra.
Ông Trần qua đời ngày 20/12 (Âm lịch) năm ất
Hợi (1935), chôn cất tại nghĩa địa cạnh khu Nhà Lớn. Bài vị của ông được con
cháu và dân trong vùng đưa vào thờ cúng trong khu Nhà Lớn với ý nghĩa tôn thờ vị
Thành hoàng đã có công lập nên ấp Bà Trao và khai sáng một tín ngưỡng khác lạ.
___________________
(1)Ông
Trần có sáng tác bài thơ "Mã Triều Châu" còn gọi là "Huấn Tử" để khuyên dạy con
cháu và người theo ông, gồm 87 câu, theo thể thơ tự do.
Long Sơn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.
Long Sơn là vùng đất có truyền thống cách mạng
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và chống Mỹ (1954 - 1975)
cùng với chiến khu rừng Sác lừng danh, đảo Long Sơn cũng trở thành căn cứ địa
vững chắc của quân dân Bà Rịa - Vũng Tàu. Người dân Long Sơn tưởng chừng như
luôn bận việc đạo lại không thờ ơ với việc đại sự của dân tộc. Những tiếng Long
Sơn, Bà Trao, Bến Điệp, Núi Nứa... đã đi vào tình cảm của các chiến sĩ rừng Sác
Bà Rịa... không chỉ vì nước biếc non xanh của một vùng đất nhiều tiềm năng. Họ
nhớ tới những ông già đầu tóc búi phía sau, những bà mẹ tưởng chỉ biết lạy trời
lạy đất, những ngôi nhà chật ních bàn thờ ở xứ Rồng Núi ấy đã từng cưu mang mình
qua bao tháng năm gian khổ, suốt hai cuộc kháng chiến.
Trong kháng chiến chống Pháp, Long Sơn là
chỗ dựa của nhiều cơ quan kháng chiến Bà Rịa - Vũng Tàu... Núi rừng Long Sơn
xanh tốt, những kênh rạch chằng chịt ẩn khuất sau bạt ngàn sú vẹt, và đặc biệt
là lòng dân Long Sơn luôn hướng về cách mạng đã trở thành cái nôi nuôi dưỡng,
chở che các chiến sĩ yêu nước. Từ năm 1945 đến năm 1959 xã Long Sơn có 3 Chi bộ
Đảng, gần 100 đảng viên với số dân lúc đó dưới 3.000 người, du kích Long Sơn
từng tiêu diệt một trung đội lính Pháp (năm 1947) tại thôn Hai Cầu Đá ; đánh
thiệt hại nặng một Đại đội đi càn của địch vào năm sau đó.
Thời kháng chiến chống Mỹ, qua bao nhiêu cuộc
tố Cộng, dồn dân vào "ấp chiến lược" chà xát đào bới cơ sở cách mạng, Chi bộ Long Sơn vẫn đứng vững được giữa lòng dân.
Các đơn vị quân giải phóng được nhân dân che giấu, giúp đỡ hoạt động trong vòng
vây của quân thù. Bên ngoài địch càn quét, phía trong vẫn là nơi ém quân giải
phóng nhờ cả thế dân, thế đất. Đội du kích Long Sơn là đội du kích mạnh của đặc
khu rừng Sác, được xây dựng và hoạt động đúng chỉ đạo của Đảng bộ đặc khu :
"không chiến đấu không thành du kích". Họ đã vít cổ tại trận máy bay lên thẳng
vũ trang của Mỹ giữa những ngày chúng nó đánh phá quyết liệt nhất: Long Sơn trở
thành điểm hậu cần của đặc công rừng Sác trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Cũng như ông Trần trước đây - một Thành hoàng
của làng có tinh thần yêu nước nhiệt thành, những người dân Long Sơn đã tích
cực góp sức người, sức của cho suốt hai cuộc kháng chiến. Đền đài trang
nghiêm, là vô giá, nhưng khi đã họ sẵn sàng lấy chuông đồng gửi ra chiến khu góp
phần đánh giặc. Nhiều người đã trở thành đảng viên Cộng sản, nhiều gia đình là
cơ sở cách mạng trung kiên. Biết bao con em Long Sơn đã tham gia quân đội giải
phóng, hy sinh anh dũng cho thắng lợi chung của đất nước.
Trước ngày giải phóng năm 1975, Long Sơn vẫn
là một vùng quê hẻo lánh, nhà cửa lụp xụp hoang sơ với những đường mòn qua lại
các xóm. Đời sống sinh hoạt của nhân dân thấp kém, không điện nước, thiếu những
cơ sở văn hóa thông tin, cả xã chỉ có 1 trường tiểu học 6 lớp, 1 trạm y tế nhỏ
với 2 y tá và 1 hộ sinh. Trong thôn xóm, người dân ít được học hành và các điều
kiện chăm sóc y tế, sức khỏe nói chung rất hạn chế.
Làng Long Sơn có từ năm 1875 do Thống
đốc Nam Kỳ ra nghị định thành lập. Một vùng đất trù phú ở vị trí án ngữ cả sông
Lòng Tàu và nằm sát thành phố nghỉ mát Vũng Tàu, nhưng chưa bao giờ thực dân
Pháp và sau này bọn tay sai Mỹ Ngụy để tâm xây dựng mở mang đất đảo Long Sơn.
Nơi đây bọn chúng coi như là bất ổn, luôn dùng chính sách chính trị, gây chia rẽ
trong nhân dân. Kẻ địch triệt để khai thác yếu tố tín ngưỡng, trong những người
theo ông Trần, cộng vào các phù phiếm xa hoa để biến một bộ phận giới trẻ đi vào
con đường ăn chơi, nhưng lòng yêu nước của người dân Long Sơn không bao giờ thay
đổi.
Vài nét về tiềm năng và triển vọng của Long Sơn.
Sau ngày giải phóng 4/1975, nhân dân Long Sơn
phấn khởi cùng cả nước bắt tay vào cải tạo và xây dựng lại quê hương. Đời sống
tinh tế xã hội của Long Sơn đã có nhiều thay đổi tiến bộ. Ngày nay xã Long Sơn
thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ria - Vũng Tàu (1991). Số dân trên đảo có hơn
một vạn người, trong đó cư dân theo ông Trần chiếm phần đông. Từ thôn 1 đến thôn
3 là khu dân cư phía Bắc đảo, những dân cư mà tổ tiên họ là những người đầu tiên
tới lập nghiệp ở Long Sơn. Thôn 4 tới thôn 9 (khu Gò Găng) chủ yếu là dân cư
theo ông Trần.
Trong quá trình lập nghiệp, khai khẩn đất đai,
người dân Long Sơn đã tạo lập nên khoảng 400 ha đất nông nghiệp và trên 100 ha
ruộng muối. Ngoài ra họ còn mở mang các ngành nghề kinh tế khác : Đánh bắt hải
sản, chăn nuôi gia súc, nuôi trồng hải sản. Thế mạnh lớn nhất của Long Son là 3
nghề : nông nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Những thế mạnh đó được nhân dân
Long Sơn phát huy hơn bao giờ hết trong cuộc sống hôm nay.
Đảo Long Sơn là vùng đất có nhiều tiềm năng
chưa được khai thác. Ở vị trí kế cận với Vũng Tàu, một trung tâm chính trị, kinh
tế - văn hóa và du lịch của tỉnh, là khu vực thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm
của vùng Đông Nam bộ, việc đánh thức những tiềm năng của Long Sơn đang là đòi
hỏi của thực tế để phát triển trên các lĩnh vực, đánh bắt chế biến hải sản,
cảng biển, du lịch, xây dựng khu công nghiệp, dịch vụ dầu khí...
Với đặc điểm riêng, địa thế Long Sơn - Vũng
Tàu từ lâu đã kết thành một vùng hải cảng quan trọng cánh cửa mở ra biển Đông -
Thái Bình Dương. Nơi đây có vùng rộng, biển sâu 40 - 50m, thuỷ triều lên hàng
ngày, khí hậu ôn hòa, ít có bão tố. Trong dự án phát triển kinh tế, Long Sơn,
Cụm đảo Long Sơn - Gò Găng sẽ được đầu tư xây dựng các cơ sở dịch vụ cung ứng
tàu biển, bảo đảm vành đai bảo vệ an toàn, thông suốt từ cảng biển Vũng Tàu
- Long Sơn theo dường sông Lòng Tàu vào Thành phố Hồ Chí Minh và đi các tuyến
khác.
Hướng đi tới tương lai của Long Sơn đã
được mở ra cụ thể bằng dự án tuyến đường Láng Cát - Long Sơn. Con đường nối
những chờ mong sẽ được xây dựng dài hơn 4km, rộng 35m, trải bê tông nhựa với hai
làn đường. Cây cảnh hoa tươi được trồng dọc theo con đường đến Long Sơn. Cây
cảnh, hoa tươi được trồng dọc theo con đường đến Long Sơn. Cái cảnh "qua sông
thì phải lụy đò" chỉ trong nay mai sẽ không còn nữa. Nhân dân Long Sơn đang cảm
nhận được từng ngày giờ khoảng cách giữa đảo và đất liền ngày càng rút ngắn. Với
hiện thực đang đến gần, nhiều người đã không ngần ngại khi gọi con đường này là
"xa lộ" qua eo biển ! Hiện nay đường Láng Cát - Long sơn đã thi công cơ bản xong
nền hạ và đang tiến hành đóng thử cọc để chuẩn bị làm đường vượt biển. Con đường
nối liền đảo Long Sơn với quốc lộ 51 sẽ mở ra một triển vọng mới cho sự phát
triển về mọi mặt của xã đảo trong tương lai.
Sơn Thủy tạo nên vị thế riêng và những phong
cảnh kỳ vĩ cho Long Sơn. Đi tàu từ biển khơi xa ba mươi dặm, nhìn vào Long Sơn -
Vũng Tàu đã thấy hình dạng 4 đỉnh núi định hình rõ nét, vào gần thấy một dãy đất
thấp nối liền nhau, trong khung cảnh thanh bình. Núi Nứa Long Sơn tượng hình như
một con rồng đang uốn mình trên sóng nước thủy triều. Cất công trèo lên đỉnh núi
cao 183m, bên những cột đá lớn mọc chơi vơi giữa trời, ta sẽ được chiêm ngưỡng
cảnh đẹp kỳ thú tại đây và dõi tầm mắt ngắm nhìn bao quát cả thột vùng trời nước
mênh mang, một góc đẹp nhất của miền Đông Nam bộ. Lên non rồi ta lại xuống biển.
Xung quanh Long Sơn dày đặc kênh rạch, sông ngòi. Những cánh rừng nước mặn sú,
vẹt, đước sinh sôi ôm bọc dòng kênh. Con đò chở khách sau khi vượt qua ngọn sóng
biển cả sẽ đưa ta "lạc" vào một miền rừng hoang sơ. Du lịch bằng thuyền qua Long
Sơn, ngắm nhìn Núi Nứa, làng mạc xóm thôn là mong muốn của nhiều du khách. Nhưng
có lẽ sự hấp dẫn nhất của Long Sơn chính là nét tác trưng xã hội khác lạ.
Các tập tục dân dã, cổ truyền trong sinh hoạt của dân chúng (như mặc quần áo bà
ba đen, đàn ông bới tóc, những công trình kiến trúc tôn giáo và quan niệm xã hội
lối ứng xử...) đã tạo nên một khung cánh sống có sức cuốn hút du khách trong và
ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu. Với địa thế thuận lợi là cụm đảo gần đất
liền, sát Vũng Tàu, một trong những trung tâm du lịch của cả nước, Long Sơn
hoàn toàn có thể trở thành khu du lịch văn hóa tổng hợp có tầm cỡ Quốc gia.
Có thể mở các tuyến du lịch leo núi, tham quan vùng sinh thái biển ngập mận, tổ
chức nghỉ ngơi ở vùng của biển yên tĩnh, khí hậu trong lành. Cũng có thể tổ chức
các đoàn du lịch - văn hóa tìm hiện khảo sát phong tục, nếp sóng của người dân
trên đảo Long Sơn, diều mà các nhà khoa học và du khách ngoại quốc rất quan tâm.
Long Sơn có khá nhiều di tích và danh thắng.
Khu nhà Lớn (Đền thờ ông Trần) là một di tích và cũng là danh thắng quan
trọng nhất. Tháng 8/1991, Bộ Văn hóa Thông tin đã quyết định công nhận Nhà
Lớn là di tích kiến trúc nghệ thuật. Điều quan trọng hơn, chính là Nhà Lớn đã có một ảnh hưởng to lớn đối với đời
sống, sinh hoạt văn hóa tinh thần phong tục tập quán của Long Sơn. Công trình
kiến trúc và những sưu tập cổ vật trong Nhà Lớn cùng nhiều tập tục, lễ nghi tôn
giáo khác lạ với những giá trị truyền thống tốt đẹp do ảnh hưởnng của đạo đức và
uy tín của ông Trần đang có sức hấp dẫn lớn thu hút du khách và đạo hữu tới đảo
nhỏ Long Sơn.
NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG NGHỆ THUẬT
KIẾN TRÚC CỦA KHU DI TÍCH NHÀ LỚN
Lịch sử xây dựng khu di tích Nhà Lớn.
 |
|
Toàn cảnh Nhà Lớn
Long Sơn |
Vào khoảng năm 1909 ông Trần đề đạt với chính
quyền Pháp ở Bà Rịa cho lập ra nhà thờ Đức Khổng Tử làm nơi thờ cúng của dân ấp
Bà Trao. Được chủ tỉnh chấp thuận, năm 1910 ông cho xây dựng Nhà Thánh làm khu
chính điện. Sau đó tiếp tục dựng lên Lầu Trời (lầu giữa), Lầu Tiên và Lầu Phật,
tự sửa lại nhà Hậu vốn có từ trước cho rộng lớn và khang trang hơn. Năm 1927 ông
Trần lại cho cất thêm ngôi Lầu Cấm làm tiền điện, hai ngôi nhà khách để tiếp
khách từ các vùng lân cận và nơi xa tới thăm viếng, cổng tam quan, khu vườn hoa,
hai cổng ra vào khu vực thờ cúng. Năm 1928, dựng tiếp ngôi Lầu Dài, dưới để
trống làm nơi ăn nghỉ của khách vãng lai và dân trong những dịp nhà Lớn mở lễ
hội, trên lầu bày các bàn thờ lễ nghi. Đồng thời ông Trần cũng cho cất 5 dãy nhà
dài (dãy phố) làm nơi cư ngụ cho bá tánh trong buổi đầu tới Bà Trao lập nghiệp.
Các công trình kiến trúc khác trong khu vực Nhà Lớn và các khu kế cận cũng được
xây dựng trong khoảng thời gian này : Kho chứa thóc, chứa đồ, nhà đèn, nhà thợ
mộc, nhà bếp... Việc tích trữ nước ngọt để dùng trong 6 tháng mùa khô
cũng được ông Trần quan tâm cho xây 5 hồ chứa nước ngọt (ngũ hồ), 4 lu chứa nước
mưa (tứ hải).
Bên cạnh khu thờ cúng, ông Trần cho xây dựng
nhà "Long Sơn hội" làm nơi hội họp việc làng, dựng trường học để đón hai
thầy giáo về dạy chữ quốc ngữ cho trẻ nhỏ, cất một nhà chợ cho dân tới mua
bán, trao đổi hàng hóa (chợ được khánh thành ngày 16/8/1929). Ngoài ra ông còn
lập một nhà máy xay xát lúa gạo, đặt máy phát điện dùng thắp sáng trong sinh
hoạt và lễ nghi.
Cùng với việc xây dựng các công trình kiến
trúc, ông Trần còn cho người đi tìm mua các đồ vật quí mang về bày nơi
thờ cúng hay trang trí lễ nghi, nội thất như: Bàn ghế cổ, tủ thờ cẩn xà cừ, câu
đối, liễn, hoành phi đại tự, bao lam (y môn) sơn son thếp vàng lộng lẫy, các đồ
tự khí, khi tên chủ sự nhà đoan người Pháp ở Bà Rịa về nước, ông Trần mua lại
của hắn bộ bàn ghế bát tiên (tương truyền đây là bộ bàn ghế tiếp khách của vua
Thành Thái khi bị người Pháp bắt giam lỏng ở Vũng Tàu đầu thế kỷ 20) võng cáng,
xe kéo tay.
Những công trình do ông Trần tổ chức xây dựng
đều nằm trong một khu vực tạo thành quần thể kiến trúc mà nhân dân từng vùng
quen gọi là Nhà Lớn - Từ sau khi ông Trần qua đời và được đưa vào thờ cúng trong
Nhà Lớn thì khu di tích này lại có tên gọi là Đền Ông Trần.
Do có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ
thuật đặc biệt nên khu Nhà Lớn (Đền ông Trần) đã được Bộ Văn hóa - Thông tin
công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật của Quốc gia theo quyết định số
1371/QĐ-VH ngày 03/8/1991.
Nghệ thuật kiến trúc khu di tích nhà Lớn.
Toàn bộ khu di tích Nhà Lớn tọa lạc tại thôn 5
(xã Long Sơn) bên sườn phía Đông Núi Nứa, với tổng diện tích khoảng 2 ha bao
gồm.: khu Nhà Lớn (Đền thờ), nhà Long Sơn hội, trường học, nhà chợ, nhà mát, nhà
bảo tồn ghe sấm các dãy phố quanh chợ và khu lăng mộ ông Trần.
 |
|
Hoa kiểng trước
Nhà Khách bài trí theo hình bát quái |
Di tích nằm giữa khu vực dân cư tin theo ông
Trần, phía Bắc giáp thôn 5, phía Nam giáp thôn 4, phía Tây giáp Núi Nứa, phía
Đông nhìn ra ruộng lúa và khu dân cư thôn 6.
Khu đền thờ được bố cục thành hai phần. Phía đông trục lộ cắt ngang di tích có
diện tích 3.400 m2 bao gồm các công trình kiến trúc : Cổng tam quan,
hồ nước, vườn hoa, hai ngôi nhà khách, dãy phố và hai cổng phụ, con đường lát
gạch nối cổng Bắc và cổng Nam với trục lộ chính bao quanh đảo, từ hướng Đông
chính điện qua Tam quan vào trong khuôn viên di tích. Tam quan rộng 6m, cao 3,5m
gồm : cửa giữa rộng 3m, trên có chữ Hán "Sơn kỳ minh" đắp nổi. Cửa phía tả trên
có chữ "Xuân Hạ", cửa hữu có chữ "Thu Đông". Dọc theo 4 trụ cột tròn đắp bằng ciment là 2 đời câu đối bằng chữ Hán.
Các cửa đều cuốn vòm, mái lợp ngói ống. Đầu trụ cột trang trí diềm lá đề,
phượng, trúc đắp nổi sơn vàng. Từ cổng qua con đường lát ciment dài 31m, rộng 3m
dẫn tới 2 ngôi nhà khách. Khu vườn hoa trước nhà khách bố trí theo hình bát quái
(8 cửa), trong là những bồn hoa, chậu kiểng theo kiểu vườn treo ở đây nhiều cây
kiểng quí trên 80 năm tuổi. Trụ phướn bằng bê tông cốt sắt cao khoảng l0m.
Hai ngôi nhà khách, mỗi nhà diện tích 15m x.13,5m có tường hoa bao bọc. Trụ cột
xây theo hình chữ nhật, mái lợp ngói Tây. Trên nóc trang tự diềm lá đề đắp nổi.
Nền nhà lát gạch mộc, chia làm 3 gian, gian chính có bàn thờ lễ nghi, bộ sa lon
kiểu tàu bằng gỗ khảm xà cừ, mặt đá hoa cương. Trên các xà nhà treo 8 hoành phi
đại tự.
Nhà khách được ngăn cách với khu nhà thờ, bởi con đường lát gạch dài 45m, rộng
5m, hai ngôi nhà bố trí theo hình chữ nhật nối với tam giác thành hình chữ
“đinh”. Cổng Bắc và cổng Nam vào khu di tích rộng 2,5m. Đây là hai cổng bình
thường được dựng lên vì trục lộ chính của Đảo cắt ngang qua khu nhà Lớn, kỹ
thuật xây dựng và trang in mỹ thuật không có gì đặc biệt. Hai bên con đường
chính, nền đường lát gạch mộc có đặt 24 chậu kiểng trang trí.
Khu vực đền thờ có diện tích 7800m2 bao gồm : các công trình kiến
trúc : Lầu Cấm (Tiền điện) ; Nhà Thánh, Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Phật (Chính
điện), nhà Hậu (Hậu điện) và Lầu Dài là nơi lễ nghi hội hè. Ngoài ra còn một số
nhà phụ như: lẫm đựng lúa, kho đựng đồ, nhà bếp, nhà máy đèn, nhà ở của bá tánh
và dòng tộc... khu đen thờ ngăn cách với khu ngoài bằng bức tường hoa, trên có
gắn những tượng: Phượng hoàng, nghê bằng gốm men xanh. Từ ngoài vào khu đền thờ
qua 2 cổng được xây bằng ciment quét vôi trắng rộng 2,5m, trên cổng đắp nổi hình
cuốn thư với những hoa tiết trang trí hình dải đao. Trên nóc có tượng hình 2 con
sư tử chầu nguyệt và tượng người đứng tay nâng đĩa hình tròn bằng gốm phủ men
lam.
 |
|
Lầu cấm |
1- Lầu cấm : (Tiền điện) : Kiến trúc
theo kiểu 2 tầng 8 máy, tầng dưới (trệt) chia làm 5 gian với tổng diện tích
214,2m2 (12,6 x 17m) nền lát gạch bông, nội thất bài trí các bàn thờ
lễ nghi (không dùng làm nơi thờ cúng) chia làm 3 lớp, lớp ngoài có 4 bộ bàn ghế
tròn, và một bộ sa lon mặt đá, phía trên bức tường ngoài có 3 hoành phi và bức
tranh tứ bình Lan, Mai, Cúc, Trúc, Tước (chim sẻ). Lớp giữa có 5 tủ thờ khảm
trai, đáng chú ý nhất là 3 bộ bao lam (y môn) sơn son thếp vàng. Tất cả đều được
làm dưới dạng chạm thuỷ và chạm bong kênh. Các y môn chạm khắc hình cây mai,
phượng hoàng, hoa cúc dây và hình tứ linh: Long, Ly, Qui, Phụng. Bộ bàn ghế Bát
tiên chạm trổ công phu hình rồng và tám vị tiên: Hàn tướng, Lý Thiết Quài, Hà
tiên cô, Chung Ly Quyền. Trương Quả, Tào Quốc Dũng, Giám Thái Hoà, Lã Đồng Tâm.
Trên trần nhà treo bộ đèn chùm do Pháp chế tạo. Bốn trụ cột, mặt trước là hai
câu đối, mặt sau hai đôi câu liễn chạm trổ hình tứ linh và hoa thiêng, cỏ linh
chi. Xen giữa các bộ y môn là 2 câu đối và 2 câu liễn sơn mài, thếp vàng. Phía
sau 3 bộ y môn có 3 tủ thờ cẩn xà cừ hình long - hổ tranh chầu, lớp cuối cùng là
2 đôi câu đối chữ Nho, và 8 bức tranh phong cảnh sơn thủy, tứ quí, tranh hoa lá,
cỏ thiêng bằng thuốc nước màu sắc rực rỡ, và 5 bức hoành phi sơn mài thếp vàng.
Hai cửa hậu thông ra hành lang rộng 1,6m. Hai đầu hành lang là cửa phụ ra vào.
Lầu (tầng 2) sàn lát ván, bốn mặt có hành lang
và lan can gỗ bao quanh. Diện tích tầng lầu trên 100m2 13,2 x 7,8m
lan can được ghép bằng những thanh gỗ dọc từ trên xuống, xen lẫn những hình
trang trí bầu rượu bằng gỗ, nội thất chia làm 4 gian, mặt trước mặt sau có cửa
chớp đối diện nhau, 2 mặt bên cũng có 2 cửa đối diện (1 cửa sổ, 1 cửa ra vào)
giữa nhà đặt chiếc giường cổ chạm trổ công phu hình rồng phượng sơn son thếp
vàng tinh vi rực rỡ, trên có nệm và gối chăn bằng gấm tựa như long sàng của vua.
Trước giương cổ là tủ thờ lễ nghi hai bên có 2 tấm phản bàng gỗ lim láng bóng.
Phía sau có 5 tủ thờ cẩn xà cừ hình rồng, hổ, tứ linh và hoa cỏ thiêng. Lan can
phía sau có cầu thang gỗ dạng nhà cầu nổi nối xuống Nhà Thánh ở kế cận, lan can
phía Bắc có cầu thang sắt nối sang Lầu Dài. Toàn bộ ngôi Lầu Cấm cao 11,6m (tầng
1: 6,6m ; tầng 2: 5m) kết cấu bằng khung gỗ chịu lực, cột kèo, xà nhà, cầu
phong, li tô gỗ, mái lợp ngói Tây, vách gỗ xen lẫn tường, gạch liên kết khung
nhà chủ yếu dùng mộng, một số liên kết bàng bu loong. Mái nhà kiến trúc tựa mái
đình, chùa, trên nóc gắn tượng "Lưỡng Long chầu nguyệt" tường gờ nóc có gắn
tượng rồng, nghe và tượng người lư nhang...
2- Nhà Thánh :
Nằm kế cận với mặt sau Lầu Cấm, một nửa nhà tiếp giáp với Lầu Cấm, nửa lùa kéo
dài về hướng Bắc, hợp với lầu cấm thành hình chữ L. Nhà trệt nhưng được kết cấu
thành 8 mái để chống nóng, thoáng khí và lấy ánh sáng. Toàn bộ diện tích
nhà gần 450m2, chia làm 7 gian 2 chái. Nền nhà lát gạch bông tráng
men mái lợp ngói vuông, mảng bàng đất nung. Kết cấu khung nhà bằng gỗ, vách bao
quanh cũng bằng ván gỗ, một đôi chỗ xen kẽ tường gạch và tường đá. Nhìn chung
kiến trúc đơn giản, không chạm khắc hoa văn, các đường gờ nóc không trang trí.
Trên hàng cột thứ nhất giáp với Lầu Cấm có bốn đôi câu đối. Từ trái qua phải
gian 1 : bày nệm gối thêu hình hoa lá, rồng, hổ, trên một tấm phản (chỗ nghỉ
trưa của ông Trần trước đây). Gian 2 có bàn thờ "Nam Hải tướng quân" (Cá Ông).
Trên là 2 bức đại tứ. Gian thứ 3 có bàn thờ ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ)
và bàn thờ hình "Khương Thượng điếu ngư". Phía trên có 2 đại tự chữ Hán. Gian 4
là bàn thờ lễ nghi và 1 đại tự. Giàn thứ 5 bài trí 1 bộ sa lon, 1 đại tự. Gian
thứ 6 có 1 bộ bàn ghế, 1 hoành phi khảm xà cừ hình cây mai và chim sẻ (tước}.
Gian 7 để trống, trên có bức hoành phi khảm xà cừ có hình mai tước.
Hàng cột thứ hai, mặt nước và sau có 9 đôi câu đối bằng chữ Hán. Không bài trí
bàn thờ. Hàng cột thứ 3 có 4 đôi câu đối; 2 đôi có chữ Nho, 2 đôi sơn mài khảm
trai trình mai tước. Phía trên hai gian đầu mỗi gian có 2 đại Hán tự. Năm gian
kế tiếp, mỗi gian có một đại tự chữ Hán. Gian chính giữa đặt khánh thờ Khổng Tử
chạm trổ tinh vi, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Trên khánh có bức đại tự "thánh
thọ vô cương", trong khánh là hình Khổng Tử. Hai bên bày trí đồ tự khí "bát bửu"
(8 đồ binh khí) và 2 cây lọng vàng. Phía trước khánh thờ Khổng Tử là tủ thờ bằng
gỗ lim khảm trai hình "cá chép hóa rồng", hình mai tước; cuốn thư và hoa cỏ
thiêng. Hai bên khánh đặt 5 tủ thờ và 1 bàn lễ nghi. Lớp 2 bày trí bàn thờ, trên
cột có 3 đôi câu đối, giữa các câu đối là 5 bàn thờ. Từ trại qua phải : bàn thờ
Nhạc phi, hai bàn thờ Quan công, thờ Khổng Tử và bàn thờ ông Trần. Tiếp đến hàng
bày trí 3 bàn thờ lễ nghi, bộ sa lon chạm trổ hình rồng, mây vũ và chiếc ghế
ngai rồng của ông Trần thường ngồi giảng đạo và hành xử công việc, kế tiếp là
bàn thờ ông Trần. Hàng cột cuối nơi tiếp giáp Lầu Trời có bốn đôi câu đối, 2 tủ
thờ lễ nghi, ở gian giữa sau ghế ngai là bàn thờ có hình ông Trần. Bên trái bàn
thờ là chiếc bàn tròn, tựa để các đồ dùng của ông Trần : Phích nước, quạt điện,
ly tách... phía sau bàn tròn là tủ treo quần áo, phản nằm, cùng nệm gối mùng mền
của ông Trần. Bên phải là giá võng và võng, đi văng nơi ông Trần thường nằm
nghỉ.
3- Lầu Giữa : (Lầu Trời) Kiến trúc theo kiểu nhà lầu (2 tầng) 8 mái, tương tự Lầu Cấm, mái nhà lợp ngói,
vuông, kết cấu khung nhà bằng gỗ, không trang trí chạm trổ, tầng trệt diện tích
445m2, nội thất có ba đôi câu đối, bốn bộ y môn chạm thủng, sơn son
thếp vàng, bốn tủ thờ lễ nghi, một bức tranh vẻ cảnh sơn lâm hổ và đại bàng
tranh chầu. Một bức tranh vẽ phong cảnh nhà cửa, sơn thủy bằng thuốc nước - màu
sác rực rỡ. Toàn bộ khu vực giữa nhà thưng ván cây 4 mặt thành căn buồng chứa
đồ, phía trái căn buồng là bàn thờ ông Trần. Vách trước có những bức tranh thể
hiện theo nội dung truyện "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu. Chính giữa là
bàn thờ Phật Bà Quan âm.
Trên lầu (tầng 2), sàn và vách tường bằng ván gỗ, diện tích 155m2
chia làm 3 lớp. Lớp đầu có cầu thang dẫn xuống tầng trệt. Đồ thờ cúng và trang
trí gồm có : 2 khánh thờ sơn son thếp vàng, 5 bộ bao lam (y môn), 4 hoành phi
chữ Hán, 5 đôi câu đối, 2 bàn thờ, 1 tủ thờ. Lớp thứ 2 có 8 đại tự, 1 đôi câu
đối, 1 đôi câu liễn, 3 bộ y môn, 1 khánh thờ, 2 bàn thờ, 3 tủ thờ, lớp 3 có : 2
đôi câu đối, 2 bộ y môn, 1 khánh thờ, 2 bàn thờ lễ nghi, bàn thờ Thiên Mẫu Hậu
có hình 8 vị tiên nữ, bàn thờ Quan công, trên án phong có hình Quan Công. Góc
trái của Lầu Trời có cầu nổi bằng gỗ lợp ngói
dần sang Lầu Tiên. Góc phải có cầu thang có mái che nối dẫn sang Lầu Phật.
 |
|
Lầu Tiên |
4- Lầu tiên :
Nằm kế tiếp với góc trái Lầu Trời. Nhà biệt lập 2 tầng, khung nhà bằng gỗ chịu
lực, liên kết bằng mộng kết hợp với bu loong. Kiến trúc theo kiểu nhà lầu 8 mái
tương tự Lầu Cấm, mái lợp ngói vuông bằng đất nung, trên nóc có gắn tượng "lưỡng
long chầu nguyệt", và 2 tượng người đứng trong tư thế tay phải giơ lên cao, lòng
bàn tay có đĩa tròn, tay trái để trước ngực, hình cá chép, chim đại bàng. Tầng.
dưới mái xuôi tầng trên mái gấp khúc hình chũ L.
Tầng trệt có diện tích gồm l56m2 để
trống, không tràng trí bàn thờ. Xung quanh có tường bao xây gạch, trong nhà có
cầu thang gỗ dẫn lên trên lầu.
Lầu trên (tầng 2) bốn mặt là hành lang và lan
can gỗ bao bọc, góc phải của lan can có cầu thang nổi mái che dẫn sang lầu trời.
Diện tích của lầu là 40m2. Hai đầu vách tường bố trí 2 cửa ra vào,
đối diện nhau. Cửa rộng 1m cao 2,2m, sàn lát ván gỗ... bài trí khánh thờ ngũ
hành, có 2 lọng vàng. Bên trái khánh thờ là bàn thờ phúc lộc thọ, bên phải là tủ
thờ trên có hoành phi chữ Hán, án phong có hình bà vợi ông Trần. Đối diện với
khánh thờ là bức đại tự và tranh thuốc nước màu vẽ phong cảnh nhà lầu, cầu,
sông, thuyền và núi cùng cỏ cây hoa lá.
5- Lầu Phật :
Kiểu dáng kiến trúc vật liệu xây dựng tương tự
như Lầu Tiên, mái lợp ngói âm dương. Tầng trệt có diện tích gần 120m2
chia làm 3 gian 2 chái. Hoàn toàn để trống, chỉ kê có bộ phản, bàn ghế uống nước
và tiếp khách. Mặt trước giáp với cầu thang dẫn lên tầng 2 có 1 bàn thờ lễ nghi,
4 bức đại tự, l cuốn thư sơn mài thếp vàng, 1 đôi câu đối, 2 đôi câu liễn
khảm xà cừ hình cây mai và chim sẻ.
Tầng 2, có diện tích 33,6m2 kiến trúc tương tự tầng 2 Lầu Tiên, chỉ
khác là ở vách tường phía trong ngoài 2 cửa ra vào còn có 2 cửa sổ cánh chớp đối
diện nhau. Nội thất : chính giữa là khánh thờ Phật Quan âm, bàn thờ Phật, 1 đôi
câu liễn, 3 hoành phi chữ Hán. Góc phải hành lang có cửa và cầu thang nổi mái
che lợp ngói dẫn sang Lầu Trời.
6- Nhà Hậu : Kiến trúc theo kiểu nhà trệt bình thường, mái lợp ngói âm
dương, không trang trí trên nóc và ở các đòn bẩy xà nhà, xà nách, kẻ ngổng...
nội thất chia làm 6 gian có 5 đôi câu đối, 6 hoành phi chữ Hán, 6 tủ thờ. Toàn
bộ khu nhà Hậu dùng làm nơi thờ cúng ông Trần và những người trong gia tộc của
ông. Lớp ngoài chỉ có bàn thờ ông Trần ; lớp 2 từ trái qua phải là bàn thờ Huỳnh
Công Điểm ; vợ chồng bà Lê Thị Huê, ông Sáu (em ông Trần), vợ chồng ông Lê Văn
Phuông, vợ chồng ông Lê Văn Sung.
Lầu Trời, Lầu Tiên và Lầu Phật, hợp với nhà Hậu thành hình chữ "khẩu" trong
khoảng vuông lộ thiên là hồ nước mưa (7,5 x 9,0m) chìm sâu dưới đất nóc hồ, (bể)
lát gạch mộc, làm sân phơi đồ và một bể nước nổi trong có hòn non bộ thả cá,
trồng sen, cây hoa kiểng. Sân lộ thiên có kích thước 13 x 14m
|
|
Lầu Dài |
7- Lầu Dài : Ở về phía Bắc của khu Nhà Lớn ngang với Lầu Cấm. Lầu Dài
cách Lầu Cấm 27m, được kiến trúc theo kiếu nhà lầu 8 mái. Kết cấu chịu lực và
tường nhà, tường hoa bao quanh hoàn toàn bằng bê tông cốt sắt. Mái lợp ngói tây.
Mái dưới xuôi thẳng từ trên xuống, mái trên gấp khúc tương tự kiểu mái đình
chùa.
Tầng trệt rộng 589m2 (14,8 x 39,8m) chia làm 12 gian. Nền lát gạch
mộc tại gian thứ hai và gian 11 có cầu thang bê tông cốt sắt dẫn lên lầu (tầng
2). Mặt tiền có 10 cửa ra vào, cánh cửa bằng ván gỗ bịt kín, phía trên mỗi cửa
có 1 cửa thông sàn ráp kính, toàn bộ tầng dưới bỏ 'trống, bên ngoài là dãy tường
hoa xây gạch bao bọc. Từ tường hoa mở 3 cổng vào khu nhà, 2 cổng ở mặt tiền và
một cổng sau rộng 3,60m. Nhìn chung tầng trệt của ngôi nhà không có gì đặc biệt,
phức tạp về kiến trúc, hoa tiết trang trí. Lầu 1 với diện tích 9,6m x 38,4m có
hành lang và lan can bê tông bao quanh bốn. phía. Từ hành. lang phía nam nối
sang Lầu Cấm bằng cây cầu sắt. Nội thất chia làm 3 phòng. Phòng đầu có cầu thang
dẫn xuống tầng dưới. Mặt trước là 2 cửa, mặt sau 1 cửa ra vào. Giữa nhà bày 2 bộ
bàn ghế, l phản nằm, 2 tủ thờ trang trí lễ nghi. Phòng thứ hai mặt trước 4 cửa,
mặt sau 2 cửa ra vào. Giữa phòng bày bộ bàn ghế tròn, phản nằm. Hai bên có 2 bộ
bàn ghế, dọc vách tường phía sau trang trí 4 tủ thờ lễ nghi. Phòng ba : có 3 cửa
tiền, 1 cửa hậu .Trang trí nội thất tương tự phòng thứ nhất. Phía ngoài hành
lang có diềm gỗ ỵừa trang trí vừa che mưa nắng. Trên nóc nhà gắn hoa văn hình lá
đề, bầu "trời đất", tượng cá chép. Kiến trúc của Lầu Dài mô phỏng theo kiểu đình
chùa.
8- Vị trí bảo tồn ghe Sấm (Bến Kinh) : Ghe Sấm do ông Trần cho thợ đóng
để đưa gia đình đi tìm đất lập nghiệp vào cuối thế kỷ 19 hiện nay được bảo tồn
tại đầu kinh giáp với khu chợ. Ghe đóng bằng gỗ mũi nhọn cong lên phía trên, đáy
phẳng, lái mỏng ; toàn bộ ghe dài 15m, rộng 3,2 m. 2 bên mũi ghe vẽ 2 con mắt.
Chiếc ghe này được bảo tồn trong 1 ngôi nhà là đơn sơ che mưa nắng.
|
|
Khu lăng mộ Ông
Trần |
9- Khu Lăng mộ ông Trần : Nằm về phía Nam kế khu đền thờ từ trục lộ theo
con đường : lát ciment rộng 5m đi sâu vào trong chừng 40m ta gặp lối đi lát bằng
gạch mộc dẫn vào nhà quản trang. Trước mặt nhà quản trang là lăng mộ ông Trần
rộng 42m2, mộ có tường hoa bao bọc bốn phía, ngoài lát gạch và một
tượng hoa kiểng. Phía đầu ngôi mộ có 1 miếu nhỏ, trong đặt hình ông Trần và bàn
thờ để nhang đèn cúng viếng. Đỉnh cột trụ 2 bên miếu thờ có 2 lồng đèn. Kiến
trúc lăng mộ ông Trần bình dị, đơn giản nhưng lúc nào cũng được chăm sóc sạch
sẽ, hương khói quanh năm, bốn mùa xanh tươi hoa lá.
Khu di tích Nhà Lớn hiện đang tìm giữ nhiều sưu tập về tủ thờ bằng gỗ lim cẩn xà
cừ, chạm khắc tinh xảo gồm 33 cái có nguồn gốc từ vùng Hà Đông (Bắc bộ), bộ bàn
ghế bát tiên, sưu tập đồng hồ cổ do Pháp chế tạo đầu thế kỷ 20. Chiếc giường cổ
chạm khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy, ghế ngai, bao lam... đều thế
hiện giá trị nghệ thuật cao về điêu khắc trang trí mỹ thuật. Lịch sử xây dựng
khu di tích cũng đồng thời là quá trình hình thành và phát triển của ấp Bà Trao.
Vì vầy bố cục kiến trúc, nghệ thuật trang trí của khu Nhà Lớn đã phần nào thể
hiện nét tiêu hiểu, đặc trưng của những người theo ông Trần. Các công trình kiến
trúc không theo một qui hoạch tổng thể cho trước, nhà lầu, nhà trệt xen kẽ kế
tiếp nhau đã tạo nên một bố cục kiến trúc khác lạ, phá vỡ những đăng đối, nghiêm
luật của đương thời. Với những tòa nhà, đền đài uy nghiêm, bề thế, khu đền thờ
đã vượt quá tầm vóc của một dòng tộc trên một hòn đảo nhỏ.
Cách bày trí nội thất khu di tích thật trang nghiêm, uy nghi với nhiều hoành
phi, hương án bài vị, bàn thờ, tủ cẩn, câu đối... Tất cả các báu vật trên thật
sự là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc có nguồn gốc từ nhiều nơi trên đất nước
ta, thể hiện rõ nét truyền thống trang trí mỹ thuật của dân tộc bằng tứ linh, tứ
quí, hoa lạ cỏ thiêng, hoa sen, lá đề cách điệu ; lão mai, lão trúc hóa rồng.
Nghệ thuật điêu khắc trên các đồ vật bộc lộ biểu hiện về ước mơ trong tâm thức
của người lao động như bằng hoa mai tượng trưng cho tiểu vũ trụ, hoa địa lan
linh thiêng, sen cho thanh cao trong sạch, lựu cho hạnh phúc, phát triển đông
đủ. Bên cạnh những giá trị nghệ thuật độc đáo, di tích Nhà Lớn còn có giá trị
xác thực trong việc nghiên cứu. lịch sử văn hóa, dân tộc học, ngôn ngữ học của
cư dân theo tín ngưỡng ông Trần. Có thể nói khu di tích Nhà Lớn là một viên ngọc
quí trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam.
LỄ TỤC
Lễ tục Nhà Lớn Long Sơn là những thói quen xã hội và nghi thức được những người
theo ông Trần thực hiện trong cuộc sống và trong sinh hoạt. Lễ tục tại đây vừa
mang tính độc đáo riêng của Long Sơn, vừa chứng tỏ một bản lĩnh bảo lưu truyền
thống văn hóa Nam bộ cổ xưa mà ông Trần là người có những đóng góp quan trọng.
Như trên đã nói, ông Trần là người thông thạo nghề nông, có tài tổ chức, tập hợp
quần chúng, giàu lòng nhân ái, sống cương trực và có bản lĩnh. Bản thân cuộc
sống của ông là tấm gương cho những người theo ông lập nghiệp noi theo. Chính vì
vậy mà những điều ông truyền dạy (về đạo làm người, về nếp sống sinh hoạt...) có
giá trị sâu sắc, đi vào cuộc sống của dân chúng, được họ tự giác thực hiện, lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một nét đẹp, một chuẩn mực cuộc sống.
Sau đây chúng tôi xin trình bày những nét lớn trong lễ tục được chúng tôi cho là
đặc sắc. . .
TẾ LỄ TRONG NHÀ LỚN
|
|
Bàn thờ Ông
Trần |
Nhà Lớn là nơi hành lễ của những người theo ông Trần. Việc hành lễ ở đây không
bắt buộc mà hoàn toàn tự nguyện. Lễ thường nhật do những vị kỳ lão thực hiện,
mỗi ngay hai lần, vào buổi sáng và buổi chiều. Hàng tháng, có hai ngày lễ lớn là
mồng một và mười sáu Âm lịch.
Trong một năm có hai đại lễ tổ chức trọng thể thu hút. hàng vạn người từ khắp
các miền quê Nam bộ hành hành hương tham dự. Đó là Lễ Vía Ông và lễ Trùng Cửu. Lễ Tết
Nguyên Đán cũng được tiến hành rất trọng thể. Mọi sinh hoạt của Nhà Lớn Long Sơn
đều do những người thuộc dòng tộc ông Trần và 10 vị kỳ lão điều khiển. Các vị kỳ
lão này được tuyển lựa từ những người tin theo ông Trần, là những người lớn
tuổi, giàu kinh nghiệm (thường trên 60 tuổi), hiền đức, có uy tín, hiểu biết
nhiều, nhiệt tình với công việc của Nhà Lớn... Số lượng các vị kỳ lão được ấn
định là 10 người, chỉ được bổ sung hay thay thế khi có người quá già yếu, không
còn đảm đương được công việc, hoặc qua đời. Nhiệm vụ chính của các vị này là
điều khiển mọi công việc trong Nhà Lớn; từ việc tu sửa, mua sắm, sắp xếp các nơi
thờ cúng, đến phân công người vào phiên, hầu phiên... Nhưng có lẽ quan trọng
nhất là việc tổ chức, trực tiếp hành lễ trong các lễ thường nhật, cũng như các
lễ lớn trong tháng, trong năm.
Ngoài các vị kỳ lão điều hành công việc Nhà Lớn, hàng ngày còn có nhóm Vô phiên
và người Hầu phiên. Vô phiên thường có 5 người, tự nguyện làm việc trong Nhà Lớn
ba ngày, ba đêm. Công việc của họ là lau chùi bàn thờ, quét dọn nhà cửa, chăm
sóc cây cảnh và nấu cơm cúng mỗi ngày hai lần. Trực tiếp điều khiển những người
Vô phiên là Hầu phiên. Hầu phiên thường là người lớn tuổi, có uy tín, thực hiện
nhiệm vụ quan trọng là cúng tế bàn thờ ông Trần...
Những vị kỳ lão trong Nhà Lớn là nhũng người rất được nhân dân kính trọng, mến
yêu. Họ đoàn kết, bình đẳng, cùng nhau bàn bạc và tổ chức, thực hiện tốt các
công việc của Nhà Lớn, nhất là trong các dịp lễ lớn, có hàng vạn người tới hành
lễ...
Để bạn đọc hiểu rõ nội dung, nghi thức tiến hành của mỗi một cuộc lễ, trước hết,
chúng tôi xin trình bày các giai đoạn chung khi tới hành lễ tại Nhà Lớn. Trình
tự hành lễ được bắt đầu từ Nhà Thánh sau đó đến Lầu Cấm (chỉ đối với quí vị kỳ
lão và những người vô phiên), Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Bà, bàn thờ bá tánh, Nhà
Khách và cuối cùng là mộ ông Trần.
Người tới hành lễ vào cửa sau của nhà dưới Lầu Tiên, đi qua nhà dưới Lầu Trời,
bỏ guốc dép trước khi bước vào Nhà Thánh. Nơi đầu tiên mà người hành lễ đến là
bàn thờ có đặt hình ông Trần để ra mắt ông. Sau đó, đứng trước bàn thờ ông lạy
10 lạy (riêng phụ nữ phải lạy ở phía sau bàn thờ). Cách lạy trước các bàn thờ
trong Nhà Lớn được thực hiện giống nhau. Người hành lễ đứng nghiêm chỉnh trước
bàn thờ, mắt nhìn thẳng, hai tay chắp trước ngực, ngón cái của tay trái đè lên
ngón cái của tay phải (phụ nữ thì ngược lại), chân đứng hỉnh chữ "V", sau đó từ
từ đưa hai bàn tay chắp lại lên trên trán, đồng thời hạ hai đầu gối xuống đất
(phụ nữ thì xếp hai đầu gối về một bên) cúi đầu cho chạm hai bàn tay úp trên mặt
đất và lạy cho đủ số lạy ở mỗi bàn thờ. Lạy xong, đứng dậy chắp tay lạy nhẹ (xá)
và dùng hai bàn tay vuốt nhẹ từ trán lên đỉnh đầu. Sau khi lạy xong ở bàn thờ
ông Trần, người hành lễ đến trước bàn thờ Khổng Tử quay vào lạy 12 lạy và quay
ra lạy 18 lạy, lạy xong phải xá bốn xá (riêng phụ nữ phải lạy 30 lạy trước bàn
thờ Khổng Tử và lạy 12 lạy ở bốn bàn thờ xung quanh bàn thờ Khổng Tử). Tiếp theo
đó đến các bàn thờ Quan Công, Nhạc Phi và Tam Tạng, lạy 3 lạy ở mỗi bàn thờ và |