 |
| Vợ chồng ông Tư Cang và con gái tại nhà hiện nay ở Thanh Đa (Bình
Thạnh, TP.HCM) |
TT - Cả hai vợ chồng đại tá Nguyễn Văn
Tào (Tư Cang - nguyên chính ủy Lữ đoàn 316 đặc công biệt động Miền - B2) đều
không giấu được xúc động khi kể về đêm 30-4-1975, đêm đầu tiên họ được sum họp
sau 28 năm khắc khoải mong đợi.
Xa nhau 28 năm, kể từ những ngày đầu toàn quốc kháng
chiến, qua hai cuộc chiến tranh, khi chia tay con còn trong bụng mẹ, khi gặp lại
cháu ngoại đã biết bập bẹ “thưa ông ngoại”... câu chuyện quả là như mơ.
Nhưng ông bà lại có những kỷ vật để chứng minh đó là
sự thật: này chiếc đồng hồ vàng, này tấm ảnh hiếm hoi chụp trong lần duy nhất
được gần nhau ở chiến khu và cái chữ “người thương” mà hai người vẫn âu yếm gọi
nhau khi đã ngoài 80 tuổi...
“17 tuổi tôi lấy chồng theo sự sắp đặt
của cha mẹ. Vừa kịp bén hơi, quen tiếng, con vừa kịp tượng hình thì chồng dứt
khoát cầm cây tầm vông vạt nhọn mà đi. Ở quê bị Tây ruồng bố, tôi lên Sài Gòn
sống với cha mẹ ruột, sinh con, học nghề rồi đi làm nuôi con. Đêm đêm tôi hát ru
con, hát Dạ cổ hoài lang “vào ra ngóng trông tin chàng, ôi
gan vàng quặn đau”, rồi khóc...”.
“18 tuổi tôi có vợ, mất ba ngày mới dám nắm tay.
Thế mà, đến lúc biết thương lung thì giặc đến. Với tôi, không có sự lựa chọn nào
khác. Tôi bảo vợ về với gia đình, tự đi tìm việc làm, tự nuôi con mà nghe đứt
ruột. Vào chiến khu mấy tháng thì nhận được thư vợ báo tin tôi đã có con gái, bà
ngoại gọi cháu là Nhồng...”.
Cứ thế, hết cuộc kháng chiến chống Pháp. Mấy chục ngày
tự do ngắn ngủi hai người vẫn không tìm được nhau. Rồi ông được lệnh ra Bắc tập
kết. Trước khi lên tàu, ông nhận được chiếc áo len do vợ đan, tấm ảnh con gái đã
lên bảy và mấy dòng thư.
Mang ba báu vật đó ra Bắc, Nguyễn Văn Tào vẫn chưa
tưởng tượng được cuộc chiến tranh rất dài phía trước. Bảy năm học tập, rèn
luyện, cuối cùng ông đạt được ý nguyện: được trở vào Nam. Giờ, Nguyễn Văn Tào đã
là đại úy, hoạt động ở địa bàn Củ Chi, Sài Gòn với nhiệm vụ tình báo, biệt
động.
“Mấy năm ở Hà Nội, không gia đình,
không ăn tiêu, trước khi vào Nam tôi đến cửa hàng bách hóa tổng hợp. Trong tủ có
duy nhất một cái đồng hồ nữ bằng vàng tây hiệu Movado của Thụy Sĩ, tôi dốc hết
tiền dành dụm để mua trước sự kinh ngạc của cô mậu dịch viên. Cất kỹ vào đáy
balô, tôi vượt Trường Sơn mất mấy tháng, thêm ngần ấy thời gian nữa để điều
nghiên và tạo được điều kiện... móc bà ấy ra khu gặp vài giờ đồng hồ. Cuối cùng
tôi cũng tặng được một món quà cho người thương...”.
“Chờ đợi mỏi mòn, tôi không dám để cho
mình có chút thời gian rảnh. Đi làm, về chăm sóc con, cha mẹ, rồi may vá. Nhà
nghèo, chỉ có vài cái áo thay đổi, không trang sức gì bao giờ. Tôi nghe nói đi
cách mạng không có nhà ở, cơm ăn, thương ông ấy quá. Vậy rồi được liên lạc, được
gặp mặt. Thấy ổng vẫn cao ráo, trắng trẻo, đẹp trai, lại còn có đồng hồ vàng
tặng vợ nữa...”.
 |
| Về thăm gia đình tại Thị Nghè cùng với đứa cháu ngoại 3 tuổi.
(Khi lên đường đi đánh Pháp, vợ mới có chửa mấy tháng. Ngày về sum họp, đứa con
gái 28 tuổi đã sinh một cháu ngoại gái nữa - cuộc chiến tranh quá lâu dài! - Lời ghi của ông Tư Cang) |
Từ đó, cả bà
Trần Ngọc Ảnh và chị Nhồng (Trần Thị Giang) đều trở thành liên lạc trong đường
dây, chuyên đưa những thư từ quan trọng, hỏa tốc. Mỗi lần đưa thư, họ cố ghìm
lòng như chưa hề quen biết nhau. Nhưng ông Tư Cang vốn lãng mạn. Giữa những mối
nguy hiểm và căng thẳng của nghề tình báo, ông vẫn hẹn hò. Thỉnh thoảng ông lại
cho người nhắn bà “sáng ghé ngang sở thú”. Bao nhiêu sắp xếp như vậy để được vài
phút cùng ngồi ở hai đầu băng ghế hay cùng đi song song dưới một hàng cây.
14 năm vừa xa vừa gần như thế, rồi ông được lệnh ra
Bắc học. Hơn một năm sốt ruột theo dõi tin chiến trường, Tư Cang lại được gọi về
miền Nam ngay lúc chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Vượt Trường Sơn, chỉ huy Lữ
đoàn 316 đặc công biệt động vào thành phố.
“Giải phóng. Từ chiều đến tối tôi hối hả tự lái chiếc xe Jeep
đi kiểm tra các điểm đóng quân, không dám dừng lại ở đâu lâu. 24g đêm, trên xe
tôi còn ba nữ chiến sĩ, tôi rẽ thẳng vào khu cư xá của nhân viên VN Thương Tín
(Bình Thạnh), nơi mẹ con bà ấy ở. Đến trước cửa nhà, tôi gọi: “Nhồng ơi, Nhồng”.
Và thấy... cái lưng của người thương...”.
“Từ sáng, Nhồng đã chạy nhao ra đường, gặp xe tăng nào cũng
nhìn xem có ba nó không. Đêm, tôi chong đèn chờ. Nghe tiếng “Nhồng ơi...”, biết
ông ấy đã về”.
Hai “người thương” ôm nhau mà khóc ngay ở cửa trước sự
ngỡ ngàng của ba cô chiến sĩ biệt động. Trong nhà, chị Nhồng rối rít lay con
gái: “Dậy chào ông ngoại...”. Chỉ được vài tiếng đồng hồ trước khi trở về doanh
trại, nhưng đêm hòa bình đầu tiên ấy là đêm hạnh phúc nhất trong đời của cả ba
người.
PHẠM VŨ
(Báo Tuổi Trẻ Online)
|