THÀNH PHỐ BÀ RỊA THÀNH PHỐ BÀ RỊA

Di tích lịch sử Di tích lịch sử

Nhà Lớn Long Sơn

 

NHÀ LỚN LONG SƠN

LƯỢC SỬ VỀ XÃ ĐẢO LONG SƠN VÀ ÔNG TRẦN

 

Núi Nứa - Long Sơn

Du khách trên đường từ Thành phố Hồ Chí Minh qua Bà Rịa tới Vũng Tàu, khi nhìn về biển khơi. đón những ngọn gió mát, lành sẽ thấy một dãy núi nhấp nhô uốn lượn hình con Rồng. Đó là xã đảo với tên gọi thật hình tượng : Long Sơn, được bao bọc bởi bốn bề sông nước mênh mang : Rạch Bến Đá; Rạch Rạng, sông Ba Nanh, sông Chà Và, Vịnh Gềnh Rái. Với diện tích hơn 90km2, Long Sơn tựa như một cù lao nổi bật giữa màu xanh ngút ngàn của thảm rừng ngập mặn nhiệt đới. Theo đường chim bay, đảo Long Sơn chỉ cách Vũng Tàu hơn 3km. Việc giao lưu giữa đảo và đất liền chỉ bằng ghe thuyền và phụ thuộc vào con nước. Tuy không phải là hải đảo xa xôi, nhưng bị ngăn cách bởi "biên giới tự nhiên" ấy hạn chế sự phát triển của xã đảo vốn là khu căn cứ cách mạng của miền Đông Nam bộ. Điều thú vị luôn hấp dẫn và thu hút du khách khi đến Long Sơn chính là phong cảnh thiên nhiên còn đầy nét hoang sơ, và đặc biệt cư dân đảo Long Sơn văn giữ những sắc thái văn hóa cổ sơ. Những công trình kiến trúc, những tục lệ, lễ nghi hội hè gắn liền với một phong cách đặc biệt thường gọi là "Đạo ông Trần", cho đến bây giờ đến đây người ta vẫn cảm thấy như lạc vào một xứ sở xa xưa nào : Những đền đài miếu mạo trang nghiêm, những người đàn ông: áo dài đen, đầu búi tóc, nhà nhà bàn thờ nhiều hơn giường tủ...

Cù lao Long Son là vùng đất có nhiều tiềm năng chưa được khai thác, xưa kia trên núi Long Sơn tre nứa xanh tốt bốn mùa nên nó đã mang tên là xã Sơn Long, làng Núi Nứa, từ năm 1962 đổi là xã Long Sơn . Ngày nay xã Long Sơn thuộc Thành phố Vũng Tàu.

Vì Long Sơn án ngự cửa các con sông lớn của miền Đông Nam bộ, cho nên bao quanh đảo là vòng đai các bãi bồi và sình lầy bị chia cắt bởi hàng trăm kênh rạch. Tương ứng với vành đai bãi bồi, sình lầy là thảm thực vật của rừng ngập mặn nhiệt đới mà ta quen gọi là rừng sác, đước, sú vẹt, mắm, bến chà là... cùng các loại động vật như bồ nông, sếu, diệc, cò, hải âu, bìm bịp, le le... dưới nước có sò huyết, cá tôm, cua, nghêu... với nhiều loại khác nhau.

Địa hình của đảo bị chia cắt thành hai khu riêng biệt, khu vực đảo lớn và khu bãi bồi Gò Găng... Hai khu ngăn cách nhau bởi con sông nước mặn rộng chừng 500m. Nói tới Long Sơn là nói tới một đảo lớn, vì hầu như toàn bộ đời sống dân cư, văn hóa xã hội đều tập trung ở đảo này.

Sơ lược lịch sử làng Núi Nứa, ấp Bà Trao.

Theo lịch sử, trong cuộc Nam tiến của dân tộc Việt, lớp người Việt đầu tiên đến định cư ở Mô Xoài - Bà Rịa là những di dân tự phát đi theo đường biển. Sau này các chúa Nguyễn còn tổ chức nhiều đợt di dân khác nhằm khai phá đất đai mở rộng bờ cõi. So với nơi khác ở Nam bộ, người Việt đến cư trú ổn định lâu dài ở Long Son muộn hơn. Biển Long Sơn rất giàu, nhưng rừng Long Sơn xưa kia lắm cát và nhiều cọp dữ. Do nhiều nguyên nhân về địa lý, khí hậu, mà có lẽ chủ yếu do trên đảo hiếm nguồn nước ngọt, cho nên trên đảo Long Sơn không có vết tích di chỉ của người nguyên thủy. Ở khu vực phía Bến Điệp - Rạch Bà có dấu tích bến ghe cổ của người Chà Và. Khu Gò Găng có dấu tích của người Khơme là những cư dân đầu tiên đến cư ngụ sinh sống ở đây trước người Việt. Long Sơn chủ yếu được mở mang dưới thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1820 - 1840). Lớp cư dân người Việt có mặt tại đảo là những người lính thú do triều Nguyễn phải tới đóng đồn tại Bến Điệp để canh phòng cửa ngõ ra vào thành Gia Định và miền Đông Nam bộ, ngăn chặn bọn hải tặc xâm nhập. Những người lính này ngoài nhiệm vụ tuần phòng, canh giữ, họ còn làm nhiệm vụ khai phá đất đai, khẩn hoang theo chính sách "khuyến nông" của Triều đình lúc đó. Sau khi giải ngũ họ trở thành những người dân lập nghiệp tại đảo, đem theo vợ con hay bà con họ hàng tới định cư sinh sống trên những vùng đất mới. Số dân cư này trú ngụ chủ yếu ở khu bến Điệp, phía Bắc Đảo, vì đây là khu tương đối trũng dễ tích tụ nước mưa, đất đá_lại bằng phẳng rộng rãi thuận lợi cho việc chăn nuôi, trồng trọt, làm muối và đánh bắt hải sản.

Dân cư ở khu vực phía Bắc đảo hình thành theo chòm, xóm, các nhà ở rải rác cách biệt dựa vào kinh tế tự nhiên là chủ yếu. Cuộc sống bình dị, đơn giản mang tính - tự cung tự cấp. Vào cuối thế kỷ 19, ta đảo đã hình thành đơn vị hành chính đầu tiên gồm 3 ấp Bến Điệp - Bến Đá và Rạch Bà thuộc làng Núi Nứa, tổng An Phú Hạ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Khu vực phía Nam đảo khi đó vẫn chưa có người khai phá, rừng rậm bao phủ và nhiều thú dữ, cùng những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nắng hạn thiếu nguồn nước, đất đai chật hẹp, muỗi mòng, rắn rết... Cuối thế kỷ 19 đã có 2 người đến đây "lập lân" (lập hội múa lân để chiêu mộ người đến khai hoang) nhưng đều chịu không nổi phải bỏ đi. Tuy nhiên, cũng có một vài người không quản gian khổ, quyết chí trụ lại sinh cơ lập nghiệp. Đó là bà Trao, ông Thiệu. Cư dân đông đúc dần, nhiều người đến dựng nhà, vỡ hoang, đánh bắt hải sản quanh vùng. Khi bà Trao qua đời, tên của bà được đặt cho vùng đất do bà khai phá, sau này mở rộng thành ấp Bà Trao (chỗ đến đài, trụ sở xã bây giờ). Bà cũng được nhân dân trong vùng lập miếu thờ vào năm 1923, tới nay vẫn còn.

Tuy nhiên, cả một vùng đất phía Đông, dưới chân núi Nứa vẫn hoang vu rậm rạp, tới năm 1900 mới có một người xưng danh là ông Trần dẫn đầu một đoàn, khoảng hai chục người trên một chiếc xuồng và các "túi đựng bầu trời đất" chính thức xin "lập lân" chiêu mộ bốn phương đến khai hoang mở đất, hình thành một khu dân cư mới với những phong tục tập quán khác lạ.

Xã đảo Long Sơn ngày nay còn bảo lưu nhiều phong tục cổ xưa với cảnh trí thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng những nếp nhà kiến trúc theo lối cổ có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với khách du lịch Trong đó khu di tích nghệ thuật Nhà Lớn với kiểu dáng, bố cục kiến trúc theo lối phương Đông tựa kiểu đình làng Việt Nam đã được biến cách là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của khu dân cư phía Đông Nam đảo. Tới Long Sơn du khách thường được nghe những mẩu chuyện về cách thức điều hành công việc, lối ứng xử thường ngày vừa bình dị mộc mạc vừa pha chút thần bí có liên quan đến một nhân vật mà ở Long Sơn mọi người dân từ già tới trẻ đều kính trọng tôn sùng gọi là "ông Cố", còn nhân dân các nơi xa gần gọi "ông cố" bằng danh từ cũng không kém phần nể trọng : ông Trần. Vậy "ông Trần" là ai mà thân thế, sự nghiệp và công đức của ông đều gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành, phát triển văn hóa - xã hội của khu vực Đông Nam đảo Long Sơn ? Trả lời thấu đáo được câu hỏi trên là một điều thật không mấy dễ đàng. Bởi lẽ do một qui ước chung nào đó mà những người theo tín ngưỡng ông Trần phần lớn không muốn tiết lộ thông tin về nguồn gốc cũng như những hoạt động tín ngưỡng của dòng tộc vì e ngại bề trên quở trách. Để có được những tư liệu xác đáng, góp phần tìm hiểu về tiểu sử ông Trần và quá trình hình thành cư dân theo tín ngưỡng của ông, cùng lịch sử xây dựng, khu di tích Nhà Lớn, chúng tôi đã áp dụng nhiều phương pháp khai thác, nghiên cứu khác nhau : Phỏng vấn nhân chứng, khảo sát thực địa, điều tra xã hội học, dân tộc học, tổ chức tọa đàm xác minh sự kiện lịch sử... Đồng thời có tham khảo, kế thừa một số công trình nghiên cứu, bài viết giới thiệu về Long Sơn trong đó có đề cập đến cư dân theo tín ngưỡng ông Trần (1)

______________

(1) Quá trình khảo cứu khoa học về Long Sơn cho thấy: Tín ngưỡng ông Trần thực chất là 1 đạo giáo đặt thù cả về qui mô phát triển và giáo lý, tín đồ. Nhưng vì thế theo ý kiến của đồng bào và chính quyền địa phương chúng tôi tạm gọi là: Tín ngưỡng ông Trần.

Ông Trần - người tổ chức khẩn hoang và lập ấp ở khu vực Đông Nam đảo Long Sơn :

Ông Trần tên thật là Lê Văn Mưu, sinh năm Ất Mão (1855) tại ấp Thiện Khánh, tổng Hà Thanh, quận Giang Thành, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc Kiên Giang), thân phụ ông là Lê Văn T. dòng dõi của ông Lê Văn T., người có công lập nên đồn Giang Thành xưa kia, nay trở thành địa danh huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Thân Mẫu là bà : Đỗ Thị Ng. cùng người ở Giang Thành. Lê Văn Mưu là con thứ hai trong số bảy người con của gia đình. Ông có một người anh, hai em gái và ba em trai. Thời niên thiếu và tuổi thanh niên của ông Trần trải qua trong bối cảnh lịch sử đầy thăng trầm của đất nước. Từ năm 1867 ba tỉnh miền Tây Nam Bộ bị thực dân Pháp chiếm đóng có nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp nổ ra nhưng đều thất bại. Các phong trào cần vương yêu nước bị quân xâm lược đàn áp khốc liệt - Nhưng tinh thần quật khởi của người dân Nam bộ và khí phách kiên trung của các lãnh tụ phong trào khởi nghĩa đã ảnh hưởng, tác động tích cực tới tư tưởng ông Mưu - đặt biệt là cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa Láng Linh (1867-1873) do chánh quản cơ Trần Văn Thành lãnh đạo đã cuốn hút ông tham gia phong trào yêu nước này. Vùng đất nơi ông Mưu sinh trưởng chịu nhiều ảnh hưởng của đạo giáo "Bủu Sơn kỳ hương" do Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807 - 1856) sáng lập và sau này là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831 - 1890) lập ra nhằm phát triển giáo lý của Phật thầy Tây An khuyến tu "Tứ đại trọng ân" là : ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Hai đạo giáo trên đều lấy đạo Phật làm gốc, xen lẫn đạo Nho và phát triển chủ thuyết của những vị sáng lập - thánh địa của đạo giáo ở vùng Thất Sơn (Bảy Núi) (1) ; từ đó các đệ tử giáo phái được điều động đi khắp nơi mở đất truyền đạo, thu phục tín đồ, mở mang đạo lý. Tư tưởng của hai đạo giáo này cũng tác động không nhỏ tới việc hình thành tính cách của chàng trai Lê Văn Mưu.

______________

(1) Vùng Thất Sơn nay thuộc tỉnh An Giang.

 

Năm 20 tuổi (1874) ông Mưu lấy vợ là bà : Đoàn Thị Ng., quê ở Vĩnh Gia, Châu Đốc, về sau lần lượt vợ chồng ông sinh được ba người con là : Lê Văn Ph., Lê Văn Th. và Lê Thị M. Năm ngoài 30 tuổi ông Mưu đi học thầy đạo Hiếu Nghĩa và trở thành đệ tử của Đức Bổn Sư. Sau khi thụ huấn được một năm thì vùng núi Tượng, nơi ông học đạo bị thực dân Pháp triệt phá (1887), từ đó Đức Bổn Sư và các tín đồ phải ẩn lánh. Để tránh sự khủng bố của Pháp, ông Lê Văn Mưu đi về miền Đông Nam bộ lánh nạn và mở đạo. Ông được thầy đạo ban cho một cái bầu trời đất dùng để lập Giang Sơn, sửa Đạo Pháp. Ông không biết chữ nhưng thuộc nằm lòng nhiều câu sấm, vần vè bí hiểm. Thêm vào đó là cái tật đặc biệt : Chân trái ngắn hơn chân phải và nghề bốc thuốc trị bệnh rất giản dị bằng ba bông vạn thọ phơi khô hợp với ba cây nhang tượng trưng cho tam hoang (Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng), bẻ làm năm khúc tượng trưng cho ngũ đế (Phục hy, Thần nông nông, Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn) gói lại làm một, sắc chung với lá bùa bằng giấy vàng hòa vào nước cho bệnh nhân "trong uống ngoài xoa bóp". Trước khi đi mở đất, ông Mưu muốn đưa cả vợ con đi theo. Nhưng vợ ông không muốn đi tới vùng đất lạ. Bà nói "Thà lìa tử chứ không lìa quê". Do đó việc di cư phải đình lại cho tới khi bà Ng. qua đời. Việc chọn địa điểm định cư ở miền Đông là do ông Lê Văn Tám (chú em út của ông Mưu) đáp thuyền đến Vũng Vằng (Bà Rịa) ở chơi thăm dò trước rồi trở về nhà đón mấy người trong gia tộc cùng đi. Vì vậy ngày nay có bàn thờ ông Tám tại nhà tiên sư (Long Sơn hội).

Năm 1891 ông Lê Vản Mưu cùng gia quyến tới định cư tại Vùng Vằng (1) sinh sống bằng nghề bốc thuốc chữa bệnh, làm muối, bán muối tại chỗ hoặc chở về miền Tây đổi lấy thóc gạo. Nhờ thông thạo tiếng Khơme nên ông còn chở ghe muối đến tận Phnom Penh (Campuchia) bán và đổi lúa. Theo cách giải thích của người dân Long Sơn gọi "ông Trần" là vì ông quá nghèo khổ, không có áo bận nên phải ở trần, chỉ là cách để giấu kín tung tích của ông ?

Sau một thời gian làm ăn phát đạt, ông Trần tổ chức về quê đón số bà con họ hàng tới Vũng Vằng định cư sinh sống. Nhân dân xa gần truyền tụng ông bốc thuốc chữa bệnh giỏi nên người đến xin thuốc, xin được làm ăn sinh sống và theo ông ngày càng đông đúc. Trong suốt tám năm sản xuất và buôn bán muối, ông Trần chưa phải đóng thuế. Sau chính quyền Pháp ở Bà Rịa bắt phải nộp thuế, đồng thời truy thu số thuế những năm trước, thêm vào đó số người tôn sùng gia tăng, ông phải đưa cả gia đình lánh sang Rạch Dừa (Phước Thắng)(2) tiếp tục nghề làm muối và bốc thuốc trị bệnh.

___________________

(1)Vũng Vàng là tên gọi vũng biển ở phía Đông Bắc thị xã Bà Rịa ngày nay

(2) ấp Rạch Dừa này thuộc phường 10. thành phố Vững Tàu.

Ở Rạch Dừa được một thời gian ông Trần lại bị người Pháp truy thuế và dồn ép khiến việc làm án không phát triển được. Ông bèn tính chuyển dời nhà tới nơi hoang vắng, cách biệt để dễ b làm ăn, truyền đạo, thu phục tín đồ ngõ hầu lập ra một giang sơn riêng biệt. Ông Trần giao cho chú em út Lê Văn Tám đi thăm dò tìm nơi ở mới ông Tám vâng lời, đóng thuyền di tìm. Tới Cù lao Bà Trao, Núi Nứa ở về phía Bắc thành phố Cap Saint Jaques ông Tám thấy nơi này cách biệt với đất liền, đất rộng, rừng ngập mặn và rừng trên núi cây cối xum xuê rậm rạp, dân cư thưa thớt. Đặc biệt khu vực phía Đông Nam đảo chưa có người khai phá, có thể đáp ứng được yêu cầu mà ông Trần đặt ra. Sau khi nghe ông Tám tường trình lại những thuận an về vùng đất mới, ông Trần quyết định đưa gia tộc tới định cư lâu dài tại khu vực Đông Nam đảo, dưới chân núi Nứa, nơi chưa có người khai phá để tránh sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền Pháp. Lúc đó là năm Canh Tý (1900). Ban đầu ông cho cất một chòi tranh ba gian hai chòi dưới gốc cây xoài lớn (khu nhà khách hiện nay) làm chỗ ở tạm cho gia đình, rồi khởi sự khai khẩn vùng đất hoang chung quanh.

Khi ông Trần cùng với khoảng 20 người trong gia tộc tới đinh cư dưới chân phía Đông Núi Nứa, từ ở khu vực phía Bắc đảo đã có trên một nghìn dân tới ở từ trước và đảo có địa danh là làng Núi Nứa. Theo thống kê của người Pháp trong cuốn "Monog- raphie de la Frovince de Baria et de la ville du Cap Saint - Jacques", thì vào nám 1901 dân số của làng Núi Nứa là 1.107 người. Đây là một trong những làng đông dân nhất của tổng An Phú Hạ (Bà Rịa), cũng theo sách trên miêu tả "lấy Núi Nứa nằm trên một hòn đảo, đây là vùng được bồi đắp bỏi nhiều nhánh sông Đồng Nai. Ở giữa đảo nổi lên một ngọn núi cao 180m, nơi đó người ta khai thác đá. Dân ở đây sinh sống bằng nghề đốn củi đuốc để làm than, vì cây đước thích hợp trên vùng đầm lầy đó. Ngoài ra họ còn làm nghề đánh bắt cá và làm muối, ruộng chiếm tới 27ha".

Khu vực Đông Nam đảo khi đó vẫn chưa có người khai phá. Rừng rậm bao phủ, nhiều_ thứ dữ, cùng những điều kiện. thiên nhiên khắc nghiệt : Nắng hạn, thiếu nguồn nước ngọt, đất đai dưới là sình lầy nhiễm mặn trên thì sỏi đá khô cằn... ông Trần qui tụ số người đi theo tổ chức khai phá đất đai làm ruộng muối, ruộng lúa và đánh bắt hải sản. Ông tạo dựng cơ nghiệp bằng sự kết hợp cả tín ngưỡng do ông truyền dạy với sức lao động cần cù và tài nghệ về tổ chức xây đựng. Tương truyền ông Trần thường mặc quần cụt, để mình trần, búi tóc (vì ông và những người theo ông có tục lệ để tóc dài theo truyền thống xưa của tổ tiên), đội nón lá, lại thông thạo nghề nông và có uy tín trong việc qui tụ dân khai hoang. Thường ngày ông không ăn cơm và chỉ ăn trái cây và đậu xanh (vì xái đậu thành binh). Về thức ăn, không ăn thịt cá mà chì ăn cua (cho hết cái giống chỉ đi ngang), tôm (là giống chỉ đi lui, không đi tới), ốc (là giống ăn ở miệng, tiêu ra miệng).

Sau khi đã khai phá một số đất đai, để tính chuyện an cư lập nghiệp lâu dài, ông Trần xin được qui dân lập ấp. Trước đây, người con thứ hai của ông là Lê Văn Th. (Ba Th) đã kết hôn với con gái ông Cả Ngân, vị hương chức của làng Núi Nứa nhà ở ấp Bến Đá (khu vực Ngã Tư, phía Bắc đảo). Được ban hương chức làng và chính quyền Pháp chấp thuận, ông đứng ra qui tập dân ở các nơi, nhất là miền Tây Nam bộ đến khai phá đất đai, mở mang nghề nghiệp, phát triển kinh tế, hình thành một đơn vị hành chính mới với tên gọi Ấp Bà Trao thuộc làng Núi Nứa (1).

___________________

(1)Cuối thế kỷ 19 làng Núi Nứa có 3 ấp (Bến Điệp, Bến Đá và Rạch Già) thuộc tổng An Phú Hạ, tỉnh Bà Rịa.

Trận bão năm Giáp Thìn (1904) thật sự là cơn cuồng phong mãnh liệt đã tàn phá suốt dải ven biển Nam bộ gây nên nạn lụt lội, thiệt hại lớn về nhà cửa hoa màu cho dân chúng. Ông Trần xuất 7 thiên lúa (7.000 giạ lúa) cho những người thân tín mang về Gò Công, Cai Lậy, Mỹ Tho... cứu trợ và đón người bị nạn lũ lụt về Bà Trao cư trứ làm ăn. Tiếng lành đồn xa về một "Người Trời" được Trời Phật phái xuống "cứu nhân độ khổ" đang ở Bà Trao lan ra lục tỉnh. Các tầng lớp nhân dân nô nức bảo nhau tới ấp Bà Trao lập nghiệp. Ông Trần thu nhận, giao đất khẩn hoang cho bất cứ ai, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn miễn là chịu tuân theo những điều răn dạy của ông. Trước làn sóng di cư ào ạt, dân số của ấp Bà Trao tăng lên nhanh chóng (tăng cơ học). Dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của ông Trần, những người dân theo tín ngưỡng do ông sáng lập đã khai phá đất đai, hình thành các khu ruộng theo kiểu bậc thang để tận dụng địa hình chân núi xuôi thẳng ra biển của khu vực. Dưới là sông, biển, kênh rạch làm đường giao thông và đánh bắt hải sản, kế tiếp là đùm chứa nước biển làm muối và nuôi trồng thủy sản. Cao hơn là khu ruộng mặn (ruộng muối), ruộng ngọt (ruộng trồng lúa nước). Chân núi làm đất thổ cư, trên sườn núi được khai phá thành nương rẫy trồng cây ăn quả lưu niên và hoa màu. Những người theo ông Trần còn bỏ công sức xây dựng hệ thống thủy nông, đào kênh Bến Kinh, nạo vét bùn đất mở rộng rạch Cá Đối, đắp đê ngăn nước mặn tại khu vực đồng Bà Cúc, làm thêm ruộng muối, sắm ghe thuyền đánh bắt hải sản và buôn bán, trao đổi hàng hóa với các vùng lân cận. Cư dân theo ông Trần cư trú thành tập đoàn quần tụ trong khu vực phía Đông Núi Nứa. Họ xây dựng nhà cửa theo những lớp vành khăn ôm lấy chân núi và có quan hệ thân thuộc với nhau.

Ông Trần đối xử với dân bình đẳng và khiêm nhường. Ông tự xưng là "người này", gọi người khác là "người lớn" hoặc người nhỏ" tuỳ theo tuổi tác của họ. Buổi tối sau những giờ lao động mệt nhọc, khi việc nhà đã được lo liệu xong, ông thường tập trung dân tại nhà thánh để nghe đọc truyện hoặc kể truyện về những gương trung hiếu, tiết nghĩa trong lịch sử Việt Nam và lịch sử Trung Quốc. Mỗi khi nghe xong một câu chuyện, ông Trần thường cắt nghĩa cặn kẽ cho người nghe. Những buổi tập trung sinh hoạt văn hóa tại nhà thánh còn là dịp để ông Trần đứng ra phân xử, hòa giải những mâu thuẫn, va chạm xích mích của người dân theo ông. Đồng thời ông khuyên bảo họ ăn hiền ở lành, làm việc thiện, tránh việc ác (1) khơi gợi cho họ lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Giữ gìn những phong tục tập quán của cha ông, không hợp tác với thực dân xâm lược. Ông Trần còn làm thuốc để chữa trị bệnh cho dân rất được tín nhiệm. Những người từ nơi khác đến đều được ông thu nhận, cho ở trong những đãy nhà dành cho bá tánh (dãy phố) và khoanh đất, cấp dụng cụ, vốn liếng cho họ làm ăn trong vài ba năm. Chừng nào đã đủ sống thì cất nhà ra ở riêng. Mọi người dân theo ông đều sinh hoạt bình đẳng, không phân chia ngôi thứ, tầng lớp. Họ sống tự giác và hòa thuận theo những qui ước chung do ông Trần đặt ra.

Ông Trần qua đời ngày 20/12 (Âm lịch) năm ất Hợi (1935), chôn cất tại nghĩa địa cạnh khu Nhà Lớn. Bài vị của ông được con cháu và dân trong vùng đưa vào thờ cúng trong khu Nhà Lớn với ý nghĩa tôn thờ vị Thành hoàng đã có công lập nên ấp Bà Trao và khai sáng một tín ngưỡng khác lạ.

___________________

(1)Ông Trần có sáng tác bài thơ "Mã Triều Châu" còn gọi là "Huấn Tử" để khuyên dạy con cháu và người theo ông, gồm 87 câu, theo thể thơ tự do.

Long Sơn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

 Long Sơn là vùng đất có truyền thống cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và chống Mỹ (1954 - 1975) cùng với chiến khu rừng Sác lừng danh, đảo Long Sơn cũng trở thành căn cứ địa vững chắc của quân dân Bà Rịa - Vũng Tàu. Người dân Long Sơn tưởng chừng như luôn bận việc đạo lại không thờ ơ với việc đại sự của dân tộc. Những tiếng Long Sơn, Bà Trao, Bến Điệp, Núi Nứa... đã đi vào tình cảm của các chiến sĩ rừng Sác Bà Rịa... không chỉ vì nước biếc non xanh của một vùng đất nhiều tiềm năng. Họ nhớ tới những ông già đầu tóc búi phía sau, những bà mẹ tưởng chỉ biết lạy trời lạy đất, những ngôi nhà chật ních bàn thờ ở xứ Rồng Núi ấy đã từng cưu mang mình qua bao tháng năm gian khổ, suốt hai cuộc kháng chiến.

Trong kháng chiến chống Pháp, Long Sơn là chỗ dựa của nhiều cơ quan kháng chiến Bà Rịa - Vũng Tàu... Núi rừng Long Sơn xanh tốt, những kênh rạch chằng chịt ẩn khuất sau bạt ngàn sú vẹt, và đặc biệt là lòng dân Long Sơn luôn hướng về cách mạng đã trở thành cái nôi nuôi dưỡng, chở che các chiến sĩ yêu nước. Từ năm 1945 đến năm 1959 xã Long Sơn có 3 Chi bộ Đảng, gần 100 đảng viên với số dân lúc đó dưới 3.000 người, du kích Long Sơn từng tiêu diệt một trung đội lính Pháp (năm 1947) tại thôn Hai Cầu Đá ; đánh thiệt hại nặng một Đại đội đi càn của địch vào năm sau đó.

Thời kháng chiến chống Mỹ, qua bao nhiêu cuộc tố Cộng, dồn dân vào "ấp chiến lược" chà xát đào bới cơ sở cách mạng, Chi bộ Long Sơn vẫn đứng vững được giữa lòng dân. Các đơn vị quân giải phóng được nhân dân che giấu, giúp đỡ hoạt động trong vòng vây của quân thù. Bên ngoài địch càn quét, phía trong vẫn là nơi ém quân giải phóng nhờ cả thế dân, thế đất. Đội du kích Long Sơn là đội du kích mạnh của đặc khu rừng Sác, được xây dựng và hoạt động đúng chỉ đạo của Đảng bộ đặc khu : "không chiến đấu không thành du kích". Họ đã vít cổ tại trận máy bay lên thẳng vũ trang của Mỹ giữa những ngày chúng nó đánh phá quyết liệt nhất: Long Sơn trở thành điểm hậu cần của đặc công rừng Sác trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Cũng như ông Trần trước đây - một Thành hoàng của làng có tinh thần yêu nước nhiệt thành, những người dân Long Sơn đã tích cực góp sức người, sức của cho suốt hai cuộc kháng chiến. Đền đài trang nghiêm, là vô giá, nhưng khi đã họ sẵn sàng lấy chuông đồng gửi ra chiến khu góp phần đánh giặc. Nhiều người đã trở thành đảng viên Cộng sản, nhiều gia đình là cơ sở cách mạng trung kiên. Biết bao con em Long Sơn đã tham gia quân đội giải phóng, hy sinh anh dũng cho thắng lợi chung của đất nước.

Trước ngày giải phóng năm 1975, Long Sơn vẫn là một vùng quê hẻo lánh, nhà cửa lụp xụp hoang sơ với những đường mòn qua lại các xóm. Đời sống sinh hoạt của nhân dân thấp kém, không điện nước, thiếu những cơ sở văn hóa thông tin, cả xã chỉ có 1 trường tiểu học 6 lớp, 1 trạm y tế nhỏ với 2 y tá và 1 hộ sinh. Trong thôn xóm, người dân ít được học hành và các điều kiện chăm sóc y tế, sức khỏe nói chung rất hạn chế.

Làng Long Sơn có từ năm 1875 do Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định thành lập. Một vùng đất trù phú ở vị trí án ngữ cả sông Lòng Tàu và nằm sát thành phố nghỉ mát Vũng Tàu, nhưng chưa bao giờ thực dân Pháp và sau này bọn tay sai Mỹ Ngụy để tâm xây dựng mở mang đất đảo Long Sơn. Nơi đây bọn chúng coi như là bất ổn, luôn dùng chính sách chính trị, gây chia rẽ trong nhân dân. Kẻ địch triệt để khai thác yếu tố tín ngưỡng, trong những người theo ông Trần, cộng vào các phù phiếm xa hoa để biến một bộ phận giới trẻ đi vào con đường ăn chơi, nhưng lòng yêu nước của người dân Long Sơn không bao giờ thay đổi.

Vài nét về tiềm năng và triển vọng của Long Sơn.

Sau ngày giải phóng 4/1975, nhân dân Long Sơn phấn khởi cùng cả nước bắt tay vào cải tạo và xây dựng lại quê hương. Đời sống tinh tế xã hội của Long Sơn đã có nhiều thay đổi tiến bộ. Ngày nay xã Long Sơn thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Ria - Vũng Tàu (1991). Số dân trên đảo có hơn một vạn người, trong đó cư dân theo ông Trần chiếm phần đông. Từ thôn 1 đến thôn 3 là khu dân cư phía Bắc đảo, những dân cư mà tổ tiên họ là những người đầu tiên tới lập nghiệp ở Long Sơn. Thôn 4 tới thôn 9 (khu Gò Găng) chủ yếu là dân cư theo ông Trần.

Trong quá trình lập nghiệp, khai khẩn đất đai, người dân Long Sơn đã tạo lập nên khoảng 400 ha đất nông nghiệp và trên 100 ha ruộng muối. Ngoài ra họ còn mở mang các ngành nghề kinh tế khác : Đánh bắt hải sản, chăn nuôi gia súc, nuôi trồng hải sản. Thế mạnh lớn nhất của Long Son là 3 nghề : nông nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Những thế mạnh đó được nhân dân Long Sơn phát huy hơn bao giờ hết trong cuộc sống hôm nay.

Đảo Long Sơn là vùng đất có nhiều tiềm năng chưa được khai thác. Ở vị trí kế cận với Vũng Tàu, một trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa và du lịch của tỉnh, là khu vực thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm của vùng Đông Nam bộ, việc đánh thức những tiềm năng của Long Sơn đang là đòi hỏi của thực tế để phát triển trên các lĩnh vực, đánh bắt chế biến hải sản, cảng biển, du lịch, xây dựng khu công nghiệp, dịch vụ dầu khí...

Với đặc điểm riêng, địa thế Long Sơn - Vũng Tàu từ lâu đã kết thành một vùng hải cảng quan trọng cánh cửa mở ra biển Đông - Thái Bình Dương. Nơi đây có vùng rộng, biển sâu 40 - 50m, thuỷ triều lên hàng ngày, khí hậu ôn hòa, ít có bão tố. Trong dự án phát triển kinh tế, Long Sơn, Cụm đảo Long Sơn - Gò Găng sẽ được đầu tư xây dựng các cơ sở dịch vụ cung ứng tàu biển, bảo đảm vành đai bảo vệ an toàn, thông suốt từ cảng biển Vũng Tàu - Long Sơn theo dường sông Lòng Tàu vào Thành phố Hồ Chí Minh và đi các tuyến khác.

Hướng đi tới tương lai của Long Sơn đã được mở ra cụ thể bằng dự án tuyến đường Láng Cát - Long Sơn. Con đường nối những chờ mong sẽ được xây dựng dài hơn 4km, rộng 35m, trải bê tông nhựa với hai làn đường. Cây cảnh hoa tươi được trồng dọc theo con đường đến Long Sơn. Cây cảnh, hoa tươi được trồng dọc theo con đường đến Long Sơn. Cái cảnh "qua sông thì phải lụy đò" chỉ trong nay mai sẽ không còn nữa. Nhân dân Long Sơn đang cảm nhận được từng ngày giờ khoảng cách giữa đảo và đất liền ngày càng rút ngắn. Với hiện thực đang đến gần, nhiều người đã không ngần ngại khi gọi con đường này là "xa lộ" qua eo biển ! Hiện nay đường Láng Cát - Long sơn đã thi công cơ bản xong nền hạ và đang tiến hành đóng thử cọc để chuẩn bị làm đường vượt biển. Con đường nối liền đảo Long Sơn với quốc lộ 51 sẽ mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển về mọi mặt của xã đảo trong tương lai.

 Sơn Thủy tạo nên vị thế riêng và những phong cảnh kỳ vĩ cho Long Sơn. Đi tàu từ biển khơi xa ba mươi dặm, nhìn vào Long Sơn - Vũng Tàu đã thấy hình dạng 4 đỉnh núi định hình rõ nét, vào gần thấy một dãy đất thấp nối liền nhau, trong khung cảnh thanh bình. Núi Nứa Long Sơn tượng hình như một con rồng đang uốn mình trên sóng nước thủy triều. Cất công trèo lên đỉnh núi cao 183m, bên những cột đá lớn mọc chơi vơi giữa trời, ta sẽ được chiêm ngưỡng cảnh đẹp kỳ thú tại đây và dõi tầm mắt ngắm nhìn bao quát cả thột vùng trời nước mênh mang, một góc đẹp nhất của miền Đông Nam bộ. Lên non rồi ta lại xuống biển. Xung quanh Long Sơn dày đặc kênh rạch, sông ngòi. Những cánh rừng nước mặn sú, vẹt, đước sinh sôi ôm bọc dòng kênh. Con đò chở khách sau khi vượt qua ngọn sóng biển cả sẽ đưa ta "lạc" vào một miền rừng hoang sơ. Du lịch bằng thuyền qua Long Sơn, ngắm nhìn Núi Nứa, làng mạc xóm thôn là mong muốn của nhiều du khách. Nhưng có lẽ sự hấp dẫn nhất của Long Sơn chính là nét tác trưng xã hội khác lạ. Các tập tục dân dã, cổ truyền trong sinh hoạt của dân chúng (như mặc quần áo bà ba đen, đàn ông bới tóc, những công trình kiến trúc tôn giáo và quan niệm xã hội lối ứng xử...) đã tạo nên một khung cánh sống có sức cuốn hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu. Với địa thế thuận lợi là cụm đảo gần đất liền, sát Vũng Tàu, một trong những trung tâm du lịch của cả nước, Long Sơn hoàn toàn có thể trở thành khu du lịch văn hóa tổng hợp có tầm cỡ Quốc gia. Có thể mở các tuyến du lịch leo núi, tham quan vùng sinh thái biển ngập mận, tổ chức nghỉ ngơi ở vùng của biển yên tĩnh, khí hậu trong lành. Cũng có thể tổ chức các đoàn du lịch - văn hóa tìm hiện khảo sát phong tục, nếp sóng của người dân trên đảo Long Sơn, diều mà các nhà khoa học và du khách ngoại quốc rất quan tâm.

Long Sơn có khá nhiều di tích và danh thắng. Khu nhà Lớn (Đền thờ ông Trần) là một di tích và cũng là danh thắng quan trọng nhất. Tháng 8/1991, Bộ Văn hóa Thông tin đã quyết định công nhận Nhà Lớn là di tích kiến trúc nghệ thuật. Điều quan trọng hơn, chính là Nhà Lớn đã có một ảnh hưởng to lớn đối với đời sống, sinh hoạt văn hóa tinh thần phong tục tập quán của Long Sơn. Công trình kiến trúc và những sưu tập cổ vật trong Nhà Lớn cùng nhiều tập tục, lễ nghi tôn giáo khác lạ với những giá trị truyền thống tốt đẹp do ảnh hưởnng của đạo đức và uy tín của ông Trần đang có sức hấp dẫn lớn thu hút du khách và đạo hữu tới đảo nhỏ Long Sơn. 

NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC CỦA KHU DI TÍCH NHÀ LỚN    

Lịch sử xây dựng khu di tích Nhà Lớn.

Toàn cảnh Nhà Lớn Long Sơn

Vào khoảng năm 1909 ông Trần đề đạt với chính quyền Pháp ở Bà Rịa cho lập ra nhà thờ Đức Khổng Tử làm nơi thờ cúng của dân ấp Bà Trao. Được chủ tỉnh chấp thuận, năm 1910 ông cho xây dựng Nhà Thánh làm khu chính điện. Sau đó tiếp tục dựng lên Lầu Trời (lầu giữa), Lầu Tiên và Lầu Phật, tự sửa lại nhà Hậu vốn có từ trước cho rộng lớn và khang trang hơn. Năm 1927 ông Trần lại cho cất thêm ngôi Lầu Cấm làm tiền điện, hai ngôi nhà khách để tiếp khách từ các vùng lân cận và nơi xa tới thăm viếng, cổng tam quan, khu vườn hoa, hai cổng ra vào khu vực thờ cúng. Năm 1928, dựng tiếp ngôi Lầu Dài, dưới để trống làm nơi ăn nghỉ của khách vãng lai và dân trong những dịp nhà Lớn mở lễ hội, trên lầu bày các bàn thờ lễ nghi. Đồng thời ông Trần cũng cho cất 5 dãy nhà dài (dãy phố) làm nơi cư ngụ cho bá tánh trong buổi đầu tới Bà Trao lập nghiệp. Các công trình kiến trúc khác trong khu vực Nhà Lớn và các khu kế cận cũng được xây dựng trong khoảng thời gian này : Kho chứa thóc, chứa đồ, nhà đèn, nhà thợ mộc, nhà bếp... Việc tích trữ nước ngọt để dùng trong 6 tháng mùa khô cũng được ông Trần quan tâm cho xây 5 hồ chứa nước ngọt (ngũ hồ), 4 lu chứa nước mưa (tứ hải).

Bên cạnh khu thờ cúng, ông Trần cho xây dựng nhà "Long Sơn hội" làm nơi hội họp việc làng, dựng trường học để đón hai thầy giáo về dạy chữ quốc ngữ cho trẻ nhỏ, cất một nhà chợ cho dân tới mua bán, trao đổi hàng hóa (chợ được khánh thành ngày 16/8/1929). Ngoài ra ông còn lập một nhà máy xay xát lúa gạo, đặt máy phát điện dùng thắp sáng trong sinh hoạt và lễ nghi. 

Cùng với việc xây dựng các công trình kiến trúc, ông Trần còn cho người đi tìm mua các đồ vật quí mang về bày nơi thờ cúng hay trang trí lễ nghi, nội thất như: Bàn ghế cổ, tủ thờ cẩn xà cừ, câu đối, liễn, hoành phi đại tự, bao lam (y môn) sơn son thếp vàng lộng lẫy, các đồ tự khí, khi tên chủ sự nhà đoan người Pháp ở Bà Rịa về nước, ông Trần mua lại của hắn bộ bàn ghế bát tiên (tương truyền đây là bộ bàn ghế tiếp khách của vua Thành Thái khi bị người Pháp bắt giam lỏng ở Vũng Tàu đầu thế kỷ 20) võng cáng, xe kéo tay.

Những công trình do ông Trần tổ chức xây dựng đều nằm trong một khu vực tạo thành quần thể kiến trúc mà nhân dân từng vùng quen gọi là Nhà Lớn - Từ sau khi ông Trần qua đời và được đưa vào thờ cúng trong Nhà Lớn thì khu di tích này lại có tên gọi là Đền Ông Trần.

Do có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc biệt nên khu Nhà Lớn (Đền ông Trần) đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật của Quốc gia theo quyết định số 1371/QĐ-VH ngày 03/8/1991. 

Nghệ thuật kiến trúc khu di tích nhà Lớn.

Toàn bộ khu di tích Nhà Lớn tọa lạc tại thôn 5 (xã Long Sơn) bên sườn phía Đông Núi Nứa, với tổng diện tích khoảng 2 ha bao gồm.: khu Nhà Lớn (Đền thờ), nhà Long Sơn hội, trường học, nhà chợ, nhà mát, nhà bảo tồn ghe sấm các dãy phố quanh chợ và khu lăng mộ ông Trần.

Hoa kiểng trước Nhà Khách bài trí theo hình bát quái

Di tích nằm giữa khu vực dân cư tin theo ông Trần, phía Bắc giáp thôn 5, phía Nam giáp thôn 4, phía Tây giáp Núi Nứa, phía Đông nhìn ra ruộng lúa và khu dân cư thôn 6.

Khu đền thờ được bố cục thành hai phần. Phía đông trục lộ cắt ngang di tích có diện tích 3.400 m2 bao gồm các công trình kiến trúc : Cổng tam quan, hồ nước, vườn hoa, hai ngôi nhà khách, dãy phố và hai cổng phụ, con đường lát gạch nối cổng Bắc và cổng Nam với trục lộ chính bao quanh đảo, từ hướng Đông chính điện qua Tam quan vào trong khuôn viên di tích. Tam quan rộng 6m, cao 3,5m gồm : cửa giữa rộng 3m, trên có chữ Hán "Sơn kỳ minh" đắp nổi. Cửa phía tả trên có chữ "Xuân Hạ", cửa hữu có chữ "Thu Đông". Dọc theo 4 trụ cột tròn đắp bằng ciment là 2 đời câu đối bằng chữ Hán. Các cửa đều cuốn vòm, mái lợp ngói ống. Đầu trụ cột trang trí diềm lá đề, phượng, trúc đắp nổi sơn vàng. Từ cổng qua con đường lát ciment dài 31m, rộng 3m dẫn tới 2 ngôi nhà khách. Khu vườn hoa trước nhà khách bố trí theo hình bát quái (8 cửa), trong là những bồn hoa, chậu kiểng theo kiểu vườn treo ở đây nhiều cây kiểng quí trên 80 năm tuổi. Trụ phướn bằng bê tông cốt sắt cao khoảng l0m.

Hai ngôi nhà khách, mỗi nhà diện tích 15m x.13,5m có tường hoa bao bọc. Trụ cột xây theo hình chữ nhật, mái lợp ngói Tây. Trên nóc trang tự diềm lá đề đắp nổi. Nền nhà lát gạch mộc, chia làm 3 gian, gian chính có bàn thờ lễ nghi, bộ sa lon kiểu tàu bằng gỗ khảm xà cừ, mặt đá hoa cương. Trên các xà nhà treo 8 hoành phi đại tự.

Nhà khách được ngăn cách với khu nhà thờ, bởi con đường lát gạch dài 45m, rộng 5m, hai ngôi nhà bố trí theo hình chữ nhật nối với tam giác thành hình chữ "đinh". Cổng Bắc và cổng Nam vào khu di tích rộng 2,5m. Đây là hai cổng bình thường được dựng lên vì trục lộ chính của Đảo cắt ngang qua khu nhà Lớn, kỹ thuật xây dựng và trang in mỹ thuật không có gì đặc biệt. Hai bên con đường chính, nền đường lát gạch mộc có đặt 24 chậu kiểng trang trí.

Khu vực đền thờ có diện tích 7800m2 bao gồm : các công trình kiến trúc : Lầu Cấm (Tiền điện) ; Nhà Thánh, Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Phật (Chính điện), nhà Hậu (Hậu điện) và Lầu Dài là nơi lễ nghi hội hè. Ngoài ra còn một số nhà phụ như: lẫm đựng lúa, kho đựng đồ, nhà bếp, nhà máy đèn, nhà ở của bá tánh và dòng tộc... khu đen thờ ngăn cách với khu ngoài bằng bức tường hoa, trên có gắn những tượng: Phượng hoàng, nghê bằng gốm men xanh. Từ ngoài vào khu đền thờ qua 2 cổng được xây bằng ciment quét vôi trắng rộng 2,5m, trên cổng đắp nổi hình cuốn thư với những hoa tiết trang trí hình dải đao. Trên nóc có tượng hình 2 con sư tử chầu nguyệt và tượng người đứng tay nâng đĩa hình tròn bằng gốm phủ men lam.

Lầu cấm

1- Lầu cấm : (Tiền điện) : Kiến trúc theo kiểu 2 tầng 8 máy, tầng dưới (trệt) chia làm 5 gian với tổng diện tích 214,2m2 (12,6 x 17m) nền lát gạch bông, nội thất bài trí các bàn thờ lễ  nghi (không dùng làm nơi thờ cúng) chia làm 3 lớp, lớp ngoài có 4 bộ bàn ghế tròn, và một bộ sa lon mặt đá, phía trên bức tường ngoài có 3 hoành phi và bức tranh tứ bình Lan, Mai, Cúc, Trúc, Tước (chim sẻ). Lớp giữa có 5 tủ thờ khảm trai, đáng chú ý nhất là 3 bộ bao lam (y môn) sơn son thếp vàng. Tất cả đều được làm dưới dạng chạm thuỷ và chạm bong kênh. Các y môn chạm khắc hình cây mai, phượng hoàng, hoa cúc dây và hình tứ linh: Long, Ly, Qui, Phụng. Bộ bàn ghế Bát tiên chạm trổ công phu hình rồng và tám vị tiên: Hàn tướng, Lý Thiết Quài, Hà tiên cô, Chung Ly Quyền. Trương Quả, Tào Quốc Dũng, Giám Thái Hoà, Lã Đồng Tâm. Trên trần nhà treo bộ đèn chùm do Pháp chế tạo. Bốn trụ cột, mặt trước là hai câu đối, mặt sau hai đôi câu liễn chạm trổ hình tứ linh và hoa thiêng, cỏ linh chi. Xen giữa các bộ y môn là 2 câu đối và 2 câu liễn sơn mài, thếp vàng. Phía sau 3 bộ y môn có 3 tủ thờ cẩn xà cừ hình long - hổ tranh chầu, lớp cuối cùng là 2 đôi câu đối chữ Nho, và 8 bức tranh phong cảnh sơn thủy, tứ quí, tranh hoa lá, cỏ thiêng bằng thuốc nước màu sắc rực rỡ, và 5 bức hoành phi sơn mài thếp vàng. Hai cửa hậu thông ra hành lang rộng 1,6m. Hai đầu hành lang là cửa phụ ra vào.

Lầu (tầng 2) sàn lát ván, bốn mặt có hành lang và lan can gỗ bao quanh. Diện tích tầng lầu trên 100m2 13,2 x 7,8m lan can được ghép bằng những thanh gỗ dọc từ trên xuống, xen lẫn những hình trang trí bầu rượu bằng gỗ, nội thất chia làm 4 gian, mặt trước mặt sau có cửa chớp đối diện nhau, 2 mặt bên cũng có 2 cửa đối diện (1 cửa sổ, 1 cửa ra vào) giữa nhà đặt chiếc giường cổ chạm trổ công phu hình rồng phượng sơn son thếp vàng tinh vi rực rỡ, trên có nệm và gối chăn bằng gấm tựa như long sàng của vua. Trước giương cổ là tủ thờ lễ nghi hai bên có 2 tấm phản bàng gỗ lim láng bóng. Phía sau có 5 tủ thờ cẩn xà cừ hình rồng, hổ, tứ linh và hoa cỏ thiêng. Lan can phía sau có cầu thang gỗ dạng nhà cầu nổi nối xuống Nhà Thánh ở kế cận, lan can phía Bắc có cầu thang sắt nối sang Lầu Dài. Toàn bộ ngôi Lầu Cấm cao 11,6m (tầng 1: 6,6m ; tầng 2: 5m) kết cấu bằng khung gỗ chịu lực, cột kèo, xà nhà, cầu phong, li tô gỗ, mái lợp ngói Tây, vách gỗ xen lẫn tường, gạch liên kết khung nhà chủ yếu dùng mộng, một số liên kết bàng bu loong. Mái nhà kiến trúc tựa mái đình, chùa, trên nóc gắn tượng "Lưỡng Long chầu nguyệt" tường gờ nóc có gắn tượng rồng, nghe và tượng người lư nhang...

2- Nhà Thánh : Nằm kế cận với mặt sau Lầu Cấm, một nửa nhà tiếp giáp với Lầu Cấm, nửa lùa kéo dài về hướng Bắc, hợp với lầu cấm thành hình chữ L. Nhà trệt nhưng được kết cấu thành 8 mái để chống nóng, thoáng khí và lấy ánh sáng. Toàn bộ diện tích nhà gần 450m2, chia làm 7 gian 2 chái. Nền nhà lát gạch bông tráng men mái lợp ngói vuông, mảng bàng đất nung. Kết cấu khung nhà bằng gỗ, vách bao quanh cũng bằng ván gỗ, một đôi chỗ xen kẽ tường gạch và tường đá. Nhìn chung kiến trúc đơn giản, không chạm khắc hoa văn, các đường gờ nóc không trang trí.

Trên hàng cột thứ nhất giáp với Lầu Cấm có bốn đôi câu đối. Từ trái qua phải gian 1 : bày nệm gối thêu hình hoa lá, rồng, hổ, trên một tấm phản (chỗ nghỉ trưa của ông Trần trước đây). Gian 2 có bàn thờ "Nam Hải tướng quân" (Cá Ông). Trên là 2 bức đại tứ. Gian thứ 3 có bàn thờ ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và bàn thờ hình "Khương Thượng điếu ngư". Phía trên có 2 đại tự chữ Hán. Gian 4 là bàn thờ lễ nghi và 1 đại tự. Giàn thứ 5 bài trí 1 bộ sa lon, 1 đại tự. Gian thứ 6 có 1 bộ bàn ghế, 1 hoành phi khảm xà cừ hình cây mai và chim sẻ (tước}. Gian 7 để trống, trên có bức hoành phi khảm xà cừ có hình mai tước.

Hàng cột thứ hai, mặt nước và sau có 9 đôi câu đối bằng chữ Hán. Không bài trí bàn thờ. Hàng cột thứ 3 có 4 đôi câu đối; 2 đôi có chữ Nho, 2 đôi sơn mài khảm trai trình mai tước. Phía trên hai gian đầu mỗi gian có 2 đại Hán tự. Năm gian kế tiếp, mỗi gian có một đại tự chữ Hán. Gian chính giữa đặt khánh thờ Khổng Tử chạm trổ tinh vi, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Trên khánh có bức đại tự "thánh thọ vô cương", trong khánh là hình Khổng Tử. Hai bên bày trí đồ tự khí "bát bửu" (8 đồ binh khí) và 2 cây lọng vàng. Phía trước khánh thờ Khổng Tử là tủ thờ bằng gỗ lim khảm trai hình "cá chép hóa rồng", hình mai tước; cuốn thư và hoa cỏ thiêng. Hai bên khánh đặt 5 tủ thờ và 1 bàn lễ nghi. Lớp 2 bày trí bàn thờ, trên cột có 3 đôi câu đối, giữa các câu đối là 5 bàn thờ. Từ trại qua phải : bàn thờ Nhạc phi, hai bàn thờ Quan công, thờ Khổng Tử và bàn thờ ông Trần. Tiếp đến hàng bày trí 3 bàn thờ lễ nghi, bộ sa lon chạm trổ hình rồng, mây vũ và chiếc ghế ngai rồng của ông Trần thường ngồi giảng đạo và hành xử công việc, kế tiếp là bàn thờ ông Trần. Hàng cột cuối nơi tiếp giáp Lầu Trời có bốn đôi câu đối, 2 tủ thờ lễ nghi, ở gian giữa sau ghế ngai là bàn thờ có hình ông Trần. Bên trái bàn thờ là chiếc bàn tròn, tựa để các đồ dùng của ông Trần : Phích nước, quạt điện, ly tách... phía sau bàn tròn là tủ treo quần áo, phản nằm, cùng nệm gối mùng mền của ông Trần. Bên phải là giá võng và võng, đi văng nơi ông Trần thường nằm nghỉ. 

3- Lầu Giữa : (Lầu Trời) Kiến trúc theo kiểu nhà lầu (2 tầng) 8 mái, tương tự Lầu Cấm, mái nhà lợp ngói, vuông, kết cấu khung nhà bằng gỗ, không trang trí chạm trổ, tầng trệt diện tích 445m2, nội thất có ba đôi câu đối, bốn bộ y môn chạm thủng, sơn son thếp vàng, bốn tủ thờ lễ nghi, một bức tranh vẻ cảnh sơn lâm hổ và đại bàng tranh chầu.  Một bức tranh vẽ phong cảnh nhà cửa, sơn thủy bằng thuốc nước - màu sác rực rỡ. Toàn bộ khu vực giữa nhà thưng ván cây 4 mặt thành căn buồng chứa đồ, phía trái căn buồng là bàn thờ ông Trần. Vách trước có những bức tranh thể hiện theo nội dung truyện "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu. Chính giữa là bàn thờ Phật Bà Quan âm.

Trên lầu (tầng 2), sàn và vách tường bằng ván gỗ, diện tích 155m2 chia làm 3 lớp. Lớp đầu có cầu thang dẫn xuống tầng trệt. Đồ thờ cúng và trang trí gồm có : 2 khánh thờ sơn son thếp vàng, 5 bộ bao lam (y môn), 4 hoành phi chữ Hán, 5 đôi câu đối, 2 bàn thờ, 1 tủ thờ. Lớp thứ 2 có 8 đại tự, 1 đôi câu đối, 1 đôi câu liễn, 3 bộ y môn, 1 khánh thờ, 2 bàn thờ, 3 tủ thờ, lớp 3 có : 2 đôi câu đối, 2 bộ y môn, 1 khánh thờ, 2 bàn thờ lễ nghi, bàn thờ Thiên Mẫu Hậu có hình 8 vị tiên nữ, bàn thờ Quan công, trên án phong có hình Quan Công. Góc trái của Lầu Trời có cầu nổi bằng gỗ lợp ngói dần sang Lầu Tiên. Góc phải có cầu thang có mái che nối dẫn sang Lầu Phật. 

Lầu Tiên

4- Lầu tiên : Nằm kế tiếp với góc trái Lầu Trời. Nhà biệt lập 2 tầng, khung nhà bằng gỗ chịu lực, liên kết bằng mộng kết hợp với bu loong. Kiến trúc theo kiểu nhà lầu 8 mái tương tự Lầu Cấm, mái lợp ngói vuông bằng đất nung, trên nóc có gắn tượng "lưỡng long chầu nguyệt", và 2 tượng người đứng trong tư thế tay phải giơ lên cao, lòng bàn tay có đĩa tròn, tay trái để trước ngực, hình cá chép, chim đại bàng. Tầng. dưới mái xuôi tầng trên mái gấp khúc hình chũ L.

 

Tầng trệt có diện tích gồm l56m2 để trống, không tràng trí bàn thờ. Xung quanh có tường bao xây gạch, trong nhà có cầu thang gỗ dẫn lên trên lầu.

Lầu trên (tầng 2) bốn mặt là hành lang và lan can gỗ bao bọc, góc phải của lan can có cầu thang nổi mái che dẫn sang lầu trời. Diện tích của lầu là 40m2. Hai đầu vách tường bố trí 2 cửa ra vào, đối diện nhau. Cửa rộng 1m cao 2,2m, sàn lát ván gỗ... bài trí khánh thờ ngũ hành, có 2 lọng vàng. Bên trái khánh thờ là bàn thờ phúc lộc thọ, bên phải là tủ thờ trên có hoành phi chữ Hán, án phong có hình bà vợi ông Trần. Đối diện với khánh thờ là bức đại tự và tranh thuốc nước màu vẽ phong cảnh nhà lầu, cầu, sông, thuyền và núi cùng cỏ cây hoa lá. 

5- Lầu Phật : Kiểu dáng kiến trúc vật liệu xây dựng tương tự như Lầu Tiên, mái lợp ngói âm dương. Tầng trệt có diện tích gần 120m2 chia làm 3 gian 2 chái. Hoàn toàn để trống, chỉ kê có bộ phản, bàn ghế uống nước và tiếp khách. Mặt trước giáp với cầu thang dẫn lên tầng 2 có 1 bàn thờ lễ nghi, 4 bức đại tự, l cuốn thư sơn mài thếp vàng, 1 đôi câu đối, 2 đôi câu liễn khảm xà cừ hình cây mai và chim sẻ.

Tầng 2, có diện tích 33,6m2 kiến trúc tương tự tầng 2 Lầu Tiên, chỉ khác là ở vách tường phía trong ngoài 2 cửa ra vào còn có 2 cửa sổ cánh chớp đối diện nhau. Nội thất : chính giữa là khánh thờ Phật Quan âm, bàn thờ Phật, 1 đôi câu liễn, 3 hoành phi chữ Hán. Góc phải hành lang có cửa và cầu thang nổi mái che lợp ngói dẫn sang Lầu Trời. 

6- Nhà Hậu : Kiến trúc theo kiểu nhà trệt bình thường, mái lợp ngói âm dương, không trang trí trên nóc và ở các đòn bẩy xà nhà, xà nách, kẻ ngổng... nội thất chia làm 6 gian có 5 đôi câu đối, 6 hoành phi chữ Hán, 6 tủ thờ. Toàn bộ khu nhà Hậu dùng làm nơi thờ cúng ông Trần và những người trong gia tộc của ông. Lớp ngoài chỉ có bàn thờ ông Trần ; lớp 2 từ trái qua phải là bàn thờ Huỳnh Công Điểm ; vợ chồng bà Lê Thị Huê, ông Sáu (em ông Trần), vợ chồng ông Lê Văn Phuông, vợ chồng ông Lê Văn Sung.

Lầu Trời, Lầu Tiên và Lầu Phật, hợp với nhà Hậu thành hình chữ "khẩu" trong khoảng vuông lộ thiên là hồ nước mưa (7,5 x 9,0m) chìm sâu dưới đất nóc hồ, (bể) lát gạch mộc, làm sân phơi đồ và một bể nước nổi trong có hòn non bộ thả cá, trồng sen, cây hoa kiểng. Sân lộ thiên có kích thước 13 x 14m

 

Lầu Dài

7- Lầu Dài : Ở về phía Bắc của khu Nhà Lớn ngang với Lầu Cấm. Lầu Dài cách Lầu Cấm 27m, được kiến trúc theo kiếu nhà lầu 8 mái. Kết cấu chịu lực và tường nhà, tường hoa bao quanh hoàn toàn bằng bê tông cốt sắt. Mái lợp ngói tây. Mái dưới xuôi thẳng từ trên xuống, mái trên gấp khúc tương tự kiểu mái đình chùa.

 

Tầng trệt rộng 589m2 (14,8 x 39,8m) chia làm 12 gian. Nền lát gạch mộc tại gian thứ hai và gian 11 có cầu thang bê tông cốt sắt dẫn lên lầu (tầng 2). Mặt tiền có 10 cửa ra vào, cánh cửa bằng ván gỗ bịt kín, phía trên mỗi cửa có 1 cửa thông sàn ráp kính, toàn bộ tầng dưới bỏ 'trống, bên ngoài là dãy tường hoa xây gạch bao bọc. Từ tường hoa mở 3 cổng vào khu nhà, 2 cổng ở mặt tiền và một cổng sau rộng 3,60m. Nhìn chung tầng trệt của ngôi nhà không có gì đặc biệt, phức tạp về kiến trúc, hoa tiết trang trí. Lầu 1 với diện tích 9,6m x 38,4m có hành lang và lan can bê tông bao quanh bốn. phía. Từ hành. lang phía nam nối sang Lầu Cấm bằng cây cầu sắt. Nội thất chia làm 3 phòng. Phòng đầu có cầu thang dẫn xuống tầng dưới. Mặt trước là 2 cửa, mặt sau 1 cửa ra vào. Giữa nhà bày 2 bộ bàn ghế, l phản nằm, 2 tủ thờ trang trí lễ nghi. Phòng thứ hai mặt trước 4 cửa, mặt sau 2 cửa ra vào. Giữa phòng bày bộ bàn ghế tròn, phản nằm. Hai bên có 2 bộ bàn ghế, dọc vách tường phía sau trang trí 4 tủ thờ lễ nghi. Phòng ba : có 3 cửa tiền, 1 cửa hậu .Trang trí nội thất tương tự phòng thứ nhất. Phía ngoài hành lang có diềm gỗ ỵừa trang trí vừa che mưa nắng. Trên nóc nhà gắn hoa văn hình lá đề, bầu "trời đất", tượng cá chép. Kiến trúc của Lầu Dài mô phỏng theo kiểu đình chùa. 

8- Vị trí bảo tồn ghe Sấm (Bến Kinh) : Ghe Sấm do ông Trần cho thợ đóng để đưa gia đình đi tìm đất lập nghiệp vào cuối thế kỷ 19 hiện nay được bảo tồn tại đầu kinh giáp với khu chợ. Ghe đóng bằng gỗ mũi nhọn cong lên phía trên, đáy phẳng, lái mỏng ; toàn bộ ghe dài 15m, rộng 3,2 m. 2 bên mũi ghe vẽ 2 con mắt. Chiếc ghe này được bảo tồn trong 1 ngôi nhà là đơn sơ che mưa nắng. 

 

Khu lăng mộ Ông Trần

9- Khu Lăng mộ ông Trần : Nằm về phía Nam kế khu đền thờ từ trục lộ theo con đường : lát ciment rộng 5m đi sâu vào trong chừng 40m ta gặp lối đi lát bằng gạch mộc dẫn vào nhà quản trang. Trước mặt nhà quản trang là lăng mộ ông Trần rộng 42m2, mộ có tường hoa bao bọc bốn phía, ngoài lát gạch và một tượng hoa kiểng. Phía đầu ngôi mộ có 1 miếu nhỏ, trong đặt hình ông Trần và bàn thờ để nhang đèn cúng viếng. Đỉnh cột trụ 2 bên miếu thờ có 2 lồng đèn. Kiến trúc lăng mộ ông Trần bình dị, đơn giản nhưng lúc nào cũng được chăm sóc sạch sẽ, hương khói quanh năm, bốn mùa xanh tươi hoa lá.

 

Khu di tích Nhà Lớn hiện đang tìm giữ nhiều sưu tập về tủ thờ bằng gỗ lim cẩn xà cừ, chạm khắc tinh xảo gồm 33 cái có nguồn gốc từ vùng Hà Đông (Bắc bộ), bộ bàn ghế bát tiên, sưu tập đồng hồ cổ do Pháp chế tạo đầu thế kỷ 20. Chiếc giường cổ chạm khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy, ghế ngai, bao lam... đều thế hiện giá trị nghệ thuật cao về điêu khắc trang trí mỹ thuật. Lịch sử xây dựng khu di tích cũng đồng thời là quá trình hình thành và phát triển của ấp Bà Trao. Vì vầy bố cục kiến trúc, nghệ thuật trang trí của khu Nhà Lớn đã phần nào thể hiện nét tiêu hiểu, đặc trưng của những người theo ông Trần. Các công trình kiến trúc không theo một qui hoạch tổng thể cho trước, nhà lầu, nhà trệt xen kẽ kế tiếp nhau đã tạo nên một bố cục kiến trúc khác lạ, phá vỡ những đăng đối, nghiêm luật của đương thời. Với những tòa nhà, đền đài uy nghiêm, bề thế, khu đền thờ đã vượt quá tầm vóc của một dòng tộc trên một hòn đảo nhỏ.

Cách bày trí nội thất khu di tích thật trang nghiêm, uy nghi với nhiều hoành phi, hương án bài vị, bàn thờ, tủ cẩn, câu đối... Tất cả các báu vật trên thật sự là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc có nguồn gốc từ nhiều nơi trên đất nước ta, thể hiện rõ nét truyền thống trang trí mỹ thuật của dân tộc bằng tứ linh, tứ quí, hoa lạ cỏ thiêng, hoa sen, lá đề cách điệu ; lão mai, lão trúc hóa rồng. Nghệ thuật điêu khắc trên các đồ vật bộc lộ biểu hiện về ước mơ trong tâm thức của người lao động như bằng hoa mai tượng trưng cho tiểu vũ trụ, hoa địa lan linh thiêng, sen cho thanh cao trong sạch, lựu cho hạnh phúc, phát triển đông đủ. Bên cạnh những giá trị nghệ thuật độc đáo, di tích Nhà Lớn còn có giá trị xác thực trong việc nghiên cứu. lịch sử văn hóa, dân tộc học, ngôn ngữ học của cư dân theo tín ngưỡng ông Trần. Có thể nói khu di tích Nhà Lớn là một viên ngọc quí trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam. 

LỄ TỤC 

Lễ tục Nhà Lớn Long Sơn là những thói quen xã hội và nghi thức được những người theo ông Trần thực hiện trong cuộc sống và trong sinh hoạt. Lễ tục tại đây vừa mang tính độc đáo riêng của Long Sơn, vừa chứng tỏ một bản lĩnh bảo lưu truyền thống văn hóa Nam bộ cổ xưa mà ông Trần là người có những đóng góp quan trọng. Như trên đã nói, ông Trần là người thông thạo nghề nông, có tài tổ chức, tập hợp quần chúng, giàu lòng nhân ái, sống cương trực và có bản lĩnh. Bản thân cuộc sống của ông là tấm gương cho những người theo ông lập nghiệp noi theo. Chính vì vậy mà những điều ông truyền dạy (về đạo làm người, về nếp sống sinh hoạt...) có giá trị sâu sắc, đi vào cuộc sống của dân chúng, được họ tự giác thực hiện, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một nét đẹp, một chuẩn mực cuộc sống. Sau đây chúng tôi xin trình bày những nét lớn trong lễ tục được chúng tôi cho là đặc sắc. . . 

TẾ LỄ TRONG NHÀ LỚN  

 

Bàn thờ Ông Trần

Nhà Lớn là nơi hành lễ của những người theo ông Trần. Việc hành lễ ở đây không bắt buộc mà hoàn toàn tự nguyện. Lễ thường nhật do những vị kỳ lão thực hiện, mỗi ngay hai lần, vào buổi sáng và buổi chiều. Hàng tháng, có hai ngày lễ lớn là mồng một và mười sáu Âm lịch.

Trong một năm có hai đại lễ tổ chức trọng thể thu hút. hàng vạn người từ khắp các miền quê Nam bộ hành hành hương tham dự. Đó là Lễ Vía Ông và lễ Trùng Cửu. Lễ Tết Nguyên Đán cũng được tiến hành rất trọng thể. Mọi sinh hoạt của Nhà Lớn Long Sơn đều do những người thuộc dòng tộc ông Trần và 10 vị kỳ lão điều khiển. Các vị kỳ lão này được tuyển lựa từ những người tin theo ông Trần, là những người lớn tuổi, giàu kinh nghiệm (thường trên 60 tuổi), hiền đức, có uy tín, hiểu biết nhiều, nhiệt tình với công việc của Nhà Lớn... Số lượng các vị kỳ lão được ấn định là 10 người, chỉ được bổ sung hay thay thế khi có người quá già yếu, không còn đảm đương được công việc, hoặc qua đời. Nhiệm vụ chính của các vị này là điều khiển mọi công việc trong Nhà Lớn; từ việc tu sửa, mua sắm, sắp xếp các nơi thờ cúng, đến phân công người vào phiên, hầu phiên... Nhưng có lẽ quan trọng nhất là việc tổ chức, trực tiếp hành lễ trong các lễ thường nhật, cũng như các lễ lớn trong tháng, trong năm.

 

Ngoài các vị kỳ lão điều hành công việc Nhà Lớn, hàng ngày còn có nhóm Vô phiên và người Hầu phiên. Vô phiên thường có 5 người, tự nguyện làm việc trong Nhà Lớn ba ngày, ba đêm. Công việc của họ là lau chùi bàn thờ, quét dọn nhà cửa, chăm sóc cây cảnh và nấu cơm cúng mỗi ngày hai lần. Trực tiếp điều khiển những người Vô phiên là Hầu phiên. Hầu phiên thường là người lớn tuổi, có uy tín, thực hiện nhiệm vụ quan trọng là cúng tế bàn thờ ông Trần...

Những vị kỳ lão trong Nhà Lớn là nhũng người rất được nhân dân kính trọng, mến yêu. Họ đoàn kết, bình đẳng, cùng nhau bàn bạc và tổ chức, thực hiện tốt các công việc của Nhà Lớn, nhất là trong các dịp lễ lớn, có hàng vạn người tới hành lễ...

Để bạn đọc hiểu rõ nội dung, nghi thức tiến hành của mỗi một cuộc lễ, trước hết, chúng tôi xin trình bày các giai đoạn chung khi tới hành lễ tại Nhà Lớn. Trình tự hành lễ được bắt đầu từ Nhà Thánh sau đó đến Lầu Cấm (chỉ đối với quí vị kỳ lão và những người vô phiên), Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Bà, bàn thờ bá tánh, Nhà Khách và cuối cùng là mộ ông Trần. 

Người tới hành lễ vào cửa sau của nhà dưới Lầu Tiên, đi qua nhà dưới Lầu Trời, bỏ guốc dép trước khi bước vào Nhà Thánh. Nơi đầu tiên mà người hành lễ đến là bàn thờ có đặt hình ông Trần để ra mắt ông. Sau đó, đứng trước bàn thờ ông lạy 10 lạy (riêng phụ nữ phải lạy ở phía sau bàn thờ). Cách lạy trước các bàn thờ trong Nhà Lớn được thực hiện giống nhau. Người hành lễ đứng nghiêm chỉnh trước bàn thờ, mắt nhìn thẳng, hai tay chắp trước ngực, ngón cái của tay trái đè lên ngón cái của tay phải (phụ nữ thì ngược lại), chân đứng hỉnh chữ "V", sau đó từ từ đưa hai bàn tay chắp lại lên trên trán, đồng thời hạ hai đầu gối xuống đất (phụ nữ thì xếp hai đầu gối về một bên) cúi đầu cho chạm hai bàn tay úp trên mặt đất và lạy cho đủ số lạy ở mỗi bàn thờ. Lạy xong, đứng dậy chắp tay lạy nhẹ (xá) và dùng hai bàn tay vuốt nhẹ từ trán lên đỉnh đầu. Sau khi lạy xong ở bàn thờ ông Trần, người hành lễ đến trước bàn thờ Khổng Tử quay vào lạy 12 lạy và quay ra lạy 18 lạy, lạy xong phải xá bốn xá (riêng phụ nữ phải lạy 30 lạy trước bàn thờ Khổng Tử và lạy 12 lạy ở bốn bàn thờ xung quanh bàn thờ Khổng Tử). Tiếp theo đó đến các bàn thờ Quan Công, Nhạc Phi và Tam Tạng, lạy 3 lạy ở mỗi bàn thờ và chấm dứt hành lễ ở Nhà Thánh.

Ở Lầu Trời, người hành lễ đứng giữa nhà lạy 36 lạy cả bốn hướng. Trước các bàn thờ của Lầu Tiên, Lầu Bà và Bá Tánh, người hành lễ lạy 9 lạy ở mỗi nơi. Ở Nhà Khách người hành lễ quay vào lạy vọng Lầu Cấm 9 lạy và quay ra lạy 9 lạy nữa, riêng phụ nữ lạy vọng vào Lầu Cấm 36 lạy và quay ra lạy 9 lạy. Sau khi lạy xong ở các điểm trên, người hành lễ ra mộ ông Trần, cách đó chừng 200m, lạy 9 lạy trước mộ ông Trần. Và tuỳ tâm có thể lạy thêm ở những nơi mộ và những điểm khác... Trong quần thể Nhà Lớn có một tìm mà chúng ta chưa nghe nói tới cách lạy khi hành lễ. Đó là Lầu Cấm. Lầu Cấm được ông Trần xem là chỗ giáng thế của Ngọc Hoàng, đây là nơi thanh khiết. Phụ nữ tuyệt đối không được lên Lầu Cấm (họ đã lạy vọng thêm lầu Cấm từ Nhà Khách). Việc hành lễ ở đây chỉ dành cho những vị kỳ lão và những người Vô phiên. Ở Lầu Cấm, người hành lễ lạy 45 lạy (lạy 18 lạy trước mỗi bộ ván và 9 lạy trước bàn thờ giữa nhà).

- Lễ thường nhật ở Nhà Lớn : Hàng ngày, những người Vô phiên và Hầu phiên tế lễ trước các bàn thờ ở Nhà Lớn, kể cả Lầu Cấm. Buổi sáng thắp nhang, cúng nước vào lúc 4 giờ. Buổi trưa cúng cơm (lúc 11-12 giờ). Buổi tối cúng nước và cúng cơm vào lúc 18 giờ. Quá trình hành lễ và nghi thức lạy trong tế lễ thường nhật diễn ra như đã nói ở trên.

 

 

- Lễ lớn hàng tháng : Diễn ra vào ngày mồng 1 và 16 âm lịch của mỗi tháng. Việc tế lễ tại Nhà Lớn trong hai ngày này được tổ chức quy mô hơn các lễ thường nhật.

Lễ bắt đầu vào lúc sáng sớm (khoảng 4 - 5 giờ). Người ta bày các món chay : cơm nếp đậu xanh, ba liễn cơm có rắc vài hạt muối và ba ly nước lã trên các bàn thờ chính. Sau đó, các vị kỳ lão cùng quỳ xuống nguyện hệ trước bàn thờ ông Trần:

"Nam mô Phật, Pháp, Tăng, Bửu Thượng Hương, Bửu Sơn Kỳ Hương, Thượng Hương, Giới Hương, Huệ Hương, Định Hương. Mỗi nhật phần hương thấu đến mười phương, tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương. Nguyện nguyện cửu huyền thất tế độ tân gia nương, phụ mẫu tại đường Tăng Long Phước Thọ, phụ mẫu quá khứ trực vãng Tây phương, xứ xứ điều hòa thục thục, đẳng nguyện nguyện gia gia phước thọ trường" (1). Tiếp theo quý vị kỳ lão thành lễ ở Lầu Cấm, Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Bà, Nhà Khách, Nhà Hội... Nghi thức lạy như đã nói ở trên. Sau khi các quý vị kỳ lão hành lễ xong, những người khác mới được vào hành lễ...

______________

(1) Bài nguyện hương ở trên đây tương tự bài "Nguyện hương chú" của Đức bốn sư Ngô Lợi (1831 - 1890), người khai sáng Đạo Tứ ân Hiếu Nghĩa ở miền Tây Nam bộ, viết trong quyển " Linh Sơn Hội Thượng Kinh". Tuy nhiên, cũng có một vài từ ngữ khác. Ví dụ : Bài "Nguyện hương chú" của  ông Trần là "Giới Hương". Theo hiểu biết của chúng tôi, "Giái hương" có nghĩa là sự thơm của Giái. Giái tức là hương, tức là cái đức từ Giái nó thơm tho toả ra bốn phương. Người giữ Giái thì được thơm, nhẹ nhàng, gần ai thì họ cảm mến, thương yêu.Giái hương là một trong năm phần hợp lại thành Pháp thân, đó là : Giái hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tư kiến hương. Các khái niệm này của Phật giáo. Còn chữ "Giới hương" chúng tôi không rõ nghĩa, có lẽ do người ta đọc trại đi ? Cuối bài "Nguyện hương chú" có "Nam mô A-Di-Đà-Phật".

- Lễ Tết Nguyên Đán : Được bắt đầu từ ngày 25 tháng Chạp âm lịch bằng việc cúng ông Táo và tảo mộ ở nghĩa địa Nhà Lớn (trong nhân dân lễ cúng ông Táo được thực hiện từ ngày 23 tháng Chạp, theo truyền thống). Ba ngày tết các nghi thức hành lễ trong Nhà Lớn diễn ra như thường nhật, nhưng trọng thể hơn. Những người theo ông Trần đến đây để cũng lễ ông bà (thay vì thực hiện ở nhà riêng) : ngày cuối năm rước ông bà, ngày mồng một, mồng hai mừng ông bà và mồng ba tiễn ông bà.

- Lễ Vía ông : Là lễ tưởng niệm ngày ông Trần qua đời, (ngày 20 tháng 2 Ất Hợi, tức ngày 24-3-1935). Cuộc lễ kéo dài trong hai ngày 19 và 20 tháng hai âm lịch hàng năm, thu hút hàng vạn người từ các miền quê : An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, TP. Hồ Chí Minh, Bến Tre, Bà Rịa, Vũng Tàu... về đây hành hương, cúng lễ... Ngày 19 gọi là ngày lễ Tiên thường, tổ chức hai lần vào buổi sáng (lúc 10 giờ) và buổi chiều (lúc 16 giờ). Nhà Lớn làm cỗ màn để đãi mọi người từ thập phương về hành lễ. Những người trong họ tộc, những người tin theo ông Trần và từ phương  xa hành hương tới cũng có những lễ vật như bánh kẹo, trái cây, tôm, cá... bày thành mâm cúng trong Nhà Lớn vào ngày này. Ngày 20, gọi là chính lễ, tổ chức trọng thể một lần vào buổi trưa (lúc 11 giờ). Mâm cỗ cúng lễ chỉ làm đồ chay. Trong hai ngày lễ này tất cả các bàn thờ trong Nhà Lớn đều thắp đèn, nhang suốt ngày đêm. Những nhóm người hành lễ nối tiếp nhau hầu như không dứt. Nghi thức hành lễ, cúng lạy cũng thực hiện như trong các buổi lễ thường nhật. Trong ngày Vía ông Trần, phụ nữ được lên các Lầu hành lễ.

- Lễ Trùng Cửu : Tổ chức trong hai ngày : mồng 8 - lễ Tiên thường, và mồng 9 tháng 9 Âm lịch - chính lễ (1) Lễ Trùng Cửu ở Nhà Lớn Long Sơn là lễ Cầu An : cầu cho đất nước thanh  bình, nhân dân no ấm, an cư lạc nghiệp, không bệnh không tật, tránh được mọi tai họa... Cũng như lễ Vía ông Trần, lễ Trùng Cửu thu hút hàng vạn người từ khắp các miền quê Nam bộ về đây hành lễ, cầu mong những điều an lành, tốt đẹp. Họ không phải chỉ tới Nhà Lớn một lần, mà hầu như năm nào cũng đều đặn như vậy và việc hành lễ Cầu An trong dịp Trùng Cửu làm họ mãn nguyện. Nghi thức và cúng lễ trong ngày Tiên Thường và Chính lễ của lễ Trùng Cửu cũng trọng thể, trang nghiêm và qua các bước giống cách thức hành lễ Vía ông. Nhưng tính chất Cầu An trong chính lễ Trùng Cửu thể hiện nổi bật hơn qua lời nguyện hương...

______________

(1) Theo Bùi Thiết ("Từ điển Hội lễ Việt Nam", NXB Văn Hóa, Hà Nội 1993, tr 459, 460) thì. : Lễ Trùng Cửu huy còn. gọi là Tết Trùng Dương, nhằm vào ngày 9 tháng 9 âm lịch ( Theo Kinh Dịch ở chương Bát Quái thì quẻ Dương gọi là Cửu (Dương Cửu) và quẻ Âm gọi là Lục. Ngày 9 tháng 9 Trùng cửu nên Trùng Dương. Theo tục truyền, vào thời Hán (Trung Hoa) có người là Hoàn Cảnh (ở huyện Nhữ Nam) theo Phi Tràng Phòng học phép tiên, một hôm Phòng bảo Cảnh rằng: mồng 9 tháng 9 nhà anh có nạn to bảo người nhà mang túi lụa đựng thuốc Thù Du, đeo ở tay rồi lên núi uống rượu thì qua khỏi nạn (Thù Du, là một thứ tiêu, theo : Diên Hương "Thành ngữ điển tích", NXB Đồng Tháp, 1992). Hoàn Cảnh nghe lời, đem hết người nhà lên núi, tối về thấy các vật nuôi đều chết hết. Phòng nói với Cảnh rằng những con vật nuôi ấy chết thay người. Theo tích này hàng năm đến ngày 9 tháng 9 người ta làm lễ rồi cùng nhau lên núi bẽ cành Thù Du, uống rượu Cúc. Từ Trung Quốc, lễ Trùng Cửu du nhập vào Việt Nam, các văn nhân nước ta vào dịp này đi chơi núi uống rượu, hái hoa và ngâm vịnh thơ phú... Khác với Tết Trùng Củu được nói trên; lễ Trùng cửu ở Nhà Lớn Long Sơn là lễ Cầu An. Tuy nhiên nó cũng khác với nghi thức lễ Cầu An cổ truyền của người Việt. Theo Phan Kế Bính ("Việt Nam phong tục") thì lễ Cầu an của người Việt được tố chức vào khoảng cuối mùa Xuân, đầu mùa Hạ. Vì vào mùa này hay có dịch khí. Người ta làm lễ để cầu an cho dân làng được yên lành. Lễ Cầu An dùng toàn đồ vàng mã để cúng kéo dải từ một buổi đến ba ngày, có khi đến 7 ngày đêm. Để cúng, người ta lập hai đàn. Đàn Nội thu Trời, Đất, Phật, Thánh, Nam Tào, Bắc Đẩu... Đàn Ngoại thờ Mình Vương, ngoài ra có rất nhiều hình nhân khác. Khi cúng người ta đọc kinh. phù chú, đánh trống, múa gươm giáo v.v... Cũng có nơi tố chức hò hát bách hí để mua vui... Như vậy, so với lễ Cầu An cổ truyền của người Việt lễ Trùng Cửu (Cầu An) ở Nhà Lớn Long Sơn đơn giản hơn, nhưng thu hút rất nhiều người tham dự hành lễ...

Trong những ngày đại lễ, các vi kỳ lão Nhà Lớn tổ chức phân công công việc hết sức chu đáo, chặt chẽ. Bởi vậy, mặc dù có hàng vạn người tới hành lễ, nhưng khu vực Nhà Lớn không bị mất ổn định mà vần giữ được sự tôn nghiêm như những ngày thường.

Ngoài các lễ trên, hàng năm tại Nhà Lớn còn tổ chức lễ cúng sao, giải hạn (vào ngày mồng mười tháng giêng âm lịch), lễ Đoan Ngọ (ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch).

Nhìn chung các nghi thức hành lễ ở Nhà Lớn, từ các lễ thường nhật đến các xe lớn đều được tổ chức rất trọng thể. Nhưng người ta không bày biện cỗ bàn linh đình, chỉ cúng cơm, chè, xôi, cháo, bánh trái, hoa quả giản dị. Sau khi kỉnh xong, cỗ bàn được dọn xuống và mọi người cùng ăn, không phân biệt ngôi thứ, tuổi tác, đẳng cấp... Mọi người đều cảm nhận được sự gần gũi, đầm ấm !

 THỜ CÚNG TẠI GIA

 Nhà ở của những người theo ông Trần hầu hết được làm theo kiểu nhà rường, do đó, có chiều ngang rộng hơn (và vững hơn) những kiểu nhà đơn giản khác. Người ta chia bề ngang của nhà thành hai phần sau và trước bằng một tấm vách cao tận đong. Phía sau ngăn buồng làm phòng ngủ. Phía trước chủ yếu để dành cho việc đặt các bàn thờ, hành lễ. Hầu hết các gia đình theo ông Trần đều có cách bày trí, sắp đặt bàn thờ giống nhau và có những chi tiết giống bàn thờ trong Nhà Lớn : Phía trước, chính giữa mỗi nhà người ta đặt một bàn thờ vọng (thờ ông Trần). Trên có lư hương, đôi chân đèn, hai chiếc gối, ba liễn cơm, ba chung nước... Phía sau bàn thờ vọng có ba bàn thờ. Ở giữa thờ Quan Công hoặc Phật, tùy theo đức tin của mỗi gia đình. Nhưng tuyệt khiến người ta không để tranh hay tượng Phật trên bàn thờ đó. Bàn bên phái thờ gia tộc họ ngoại. Bàn bên trái thờ tổ tiên họ nội. Ba bàn thờ trên cũng được bày biện những thứ cần thiết cho cúng lễ. Phía sau bàn thờ vọng và sát vách người ta treo một giải vải đỏ lớn, nhỏ tùy theo mỗi nhà) từ trên cao xuống, gọi là Trần Điều, tương tự như trong Nhà Lớn.

Trước sân mỗi nhà đều có bàn thờ Thiên (tức thờ Trời), trên bày lư hương, chung nước, cây đèn (được thắp vào mỗi tối). Ông Địa, Thần Tài cũng có bàn thờ nhỏ trong nhà.

Nghi thức các bước hành lễ trước bàn thờ tại gia cũng tương tự như trong Nhà Lớn. Hàng ngày gia chủ cúng cơm, nước đều đặn, buổi sáng thấp nhang cúng nước vào lúc bốn giờ. Buổi trưa cúng cơm. Buổi tối cúng cơm, nước vào lúc 18 giờ. Người hành lễ lạy Ở bàn thờ ông Trần 10 lạy và ở các bàn thờ Quan Công, Phật và gia tiên mỗi nơi 9 lạy.

 

Bạn hữu mỗi khi đến thăm nhau tại nhà, việc đầu tiên họ làm là đến trước bàn vọng, thờ ông Trần, chắp tay xá. Sau đó họ mới cùng nhau nói chuyện, bàn việc...

Cúng lễ tại gia đình của những người theo ông Trần không linh đình tốn kém nhưng chứng tỏ được sự tôn nghiêm cần thiết và cũng có những nét khác biệt với tục ký nhật phổ biến mà chúng ta thường thấy.

 HÔN LỄ

Hôn lễ mà chúng tôi trình bày sau đây được xem là thói quen riêng của những người tin theo ông Trần. Để đi tới hôn nhân, gia đình đôi trai gái phải thực hiện ba bước theo nghi thức : Lễ hỏi, lễ cưới và lễ phản bái (l). Việc tổ chức các lễ trên bao giờ cũng được thực hiện từ một giờ duy nhất trong ngày, đó là giờ Thìn (từ 8 giờ sáng, ghi nhớ năm mất của Đức Phật Thầy Tây An, Bính Thìn, 1856 ; mặt khác, 8 giờ sáng là lúc ánh sáng tỏ rõ, dịu dàng : "thanh thiên bạch nhật nhất". Các đám cưới, đám hỏi thường được tổ chức vào hai ngày mồng một hoặc mười sáu, được xem là hai ngày tốt nhất trong tháng. Những người theo ông Trần không coi ngày, chọn tháng tốt xấu để dựng vợ gả chồng (hoặc ngay cả trong xây cất nhà cửa, mồ mả, thăm viếng...) như dân gian người Việt (2). Việc dạm hỏi giữa nhà trai với nhà gái không cần có nghi lễ gì. Khi hai bên đã đồng ý, thì lễ Hỏi và lễ Cưới được tiến hành.

____________

(1) Các bước hôn lễ cổ truyền của người Việt là: (Đính hôn) lễ dạm, lễ hỏi, (lễ xêu) và lễ cưới (theo : Phan Kế Bính, sđd, tr 60).

(2) Việc xem trong ngày giờ tốt nhất là 8 giờ, và ngày tốt nhất trong tháng là mồng 1 và 16 âm lịch do ông Trần đặt ra và được mọi người tự giác, tin theo thực hiện. Từ năm 1935 đến nay lệ ấy hầu như trái vẫn được giữ nguyên.

- Lễ Hỏi : Chiều hoặc tối trước ngày có lễ Hỏi, nhà trai làm lễ cẩn báo trước bàn thờ ông Trần (tại nhà) và bàn thờ tổ tiên. Cúng lễ gồm có cơm chay; trái cây, nước lã, hương đèn. Người hành lễ lạy 10 lạy ở bàn thờ ông Trần và 9 lạy ở bàn thờ gia tiên. Vào giờ Thìn sáng hôm sau nhà trai mang sính lễ với nhà gái. Đoàn nhà trai gồm có trưởng tộc (dẫn đầu), ông mai (nếu có), ông sui trai, chàng rể, phụ rể và những người thân thuộc xếp hàng đôi nam và nữ theo thứ tự từ lớn tuổi đến nhỏ tuổi. Chàng rể bưng một chiếc khay, trên có một bình rượu, hai cái chung, và một hộp gỗ, trong có đựng nữ trang và một ít tiền. Khay trầu rượu được phủ một vuông vải đỏ, hộp gỗ được phủ thêm giấy đỏ, tượng trưng cho sự vui mừng. Phụ rể cũng bưng một khay trầu rượu nhưng số trầu, cau têm sẵn chỉ có bốn miếng và không có đồ sính lễ như khay trầu rượu của chú rể. Nhà trai còn chuẩn bị một đôi đèn để chú rể đốt trên bàn thờ nhà gái.

Trước khi vào cổng nhà gái đại diện nhà trai, rể phụ vào trước xin ý kiến nhập gia. Được nhà gái đổng ý đoàn mới vào. Đại diện nhà trai (hoặc ông mai nếu có) rót rượu từ khay của chàng rể phụ trình bày lý do và mời những người có mặt trong lễ hỏi bên nhà gái. Chú rể đứng bên cạnh bàn thờ ông Trần và bàn thờ gia tiên nhà gái. Ông sui trai trình các sính lễ với đại diện quí vị kỳ lão Nhà Lớn và nhà gái ông sui gái nhận sính lễ. Nữ trang được đem vào buồng cho cô dâu. Nhà trai xin phép đại diện quý vị kỳ lão Nhà Lớn lên đè n : bày trầu, rượu và đốt đôi đèn mang theo đặt lên bàn vọng, thờ ông Trần. Tiếp đến cha mẹ cô dâu, chú rể lạy 10 lạy trước bàn thờ ông Trần, nguyện hương và lạy 9 lạy trước bàn thờ gia tiên. Sau khi cha mẹ hành lễ xong, chú rể lạy 10 lạy ở bàn thờ vọng và lạy 9 lạy trước bàn thờ gia tiên, hai lạy trước đại diện quý vị kỳ lão Nhà Lớn, hai lạy cho họ nội và hai lạy cho họ ngoại. Nghi thức chính của lễ hỏi xem như dã xong. Nhà gái đem bánh, trái, nước ra mời khách ăn xong mọi người ra về. 

- Lễ Cưới: Diễn ra trong hai ngày. Ngày đầu chuẩn bị và ngày chính lễ vào hôm sau. Trong ngày đầu ở nhà trai cũng như nhà gái, hai họ và những người thân thích bàn bạc tổ chức và cùng nhau chuẩn bị cho lễ cưới chính thức.

Theo phép tắc trong hai ngày này chàng rể phải sang nhà gái để phụ giúp những công việc chuẩn bị cho lễ cưới. Việc hành lề trước bàn thờ ông Trần và bàn thờ gia tiên cũng được cô dâu, chú rể thực hiện ngay từ ngày đầu chuẩn bị lễ cưới. Trong ngày lễ cưới chính thức, từ 8 giờ, nhà trai mang sính lễ sang nhà gái. Sính lễ cũng giống như lễ hỏi, nhưng tiền nhiều hơn và có thêm hai quảy bánh thuẫn nhiều màu sắc. Trình tự các bước của lễ cưới cũng giống như lễ hỏi. Sau khi hành lễ xong, nhà trai rước cô dâu về, cùng đi có nhà gái đưa tiễn cô dâu. Ở nhà trai, nghi thức lễ cưới cũng giống nhà gái (tức cũng hành lễ như lễ hỏi). Chỉ khác là chú rể không hành lễ một mình mà có cả cô dâu và người hướng dẫn là ông sui trai chứ không phải sui gái. Sau khi hành lễ xong, đôi vợ chồng trẻ lạy quí vị kỳ lão Nhà Lớn và những người dự lễ cưới theo thứ tự từ lớn tuổi đến nhỏ tuổi mỗi người hai lạy. Những người được mời dự lễ cưới mừng tiền hoặc các vật phẩm khác cho cô dâu, chú rể và được đãi một bữa tiệc.

Trên đây là trình tự của một cuộc hôn lề bình thường, diễn ra phổ biến. Ngoài ra, những người theo ông Trần ở Long Sơn còn tổ chức hôn lễ theo hai cách khác biệt. Đó là hôn lễ Phụ Ngọ và Hiệp hôn đàng gái.

Đối với hôn lễ Phụ Ngọ, việc tổ chức, lễ nghi được thực hiện trong Nhà Lớn thay vì tổ chức ở nhà riêng. Nhưng từ vài hôm trước ông sui trai phải vào Nhà Lớn xin phép các quý vị kỳ lão. Hôn lễ ở Nhà Lớn được cử hành ngay sau khi các vị kỳ lão hành lễ xong. Người đại diện quí vị kỳ lão Nhà Lớn đốt đôi đèn đặt lên bàn thờ (không phải chú rể như ở tư giá nhà gái). Ông bà sui trai, ông bà sui gái và cô dâu chú rể hành lễ trước bàn thờ ông Trần, mỗi người lạy 10 lạy (như vậy, chỉ trong trường hợp có hôn lễ Phụ Ngọ phụ nữ mới được đứng trước bàn thờ ông Trần trong Nhà Lớn để hành lễ mà thôi). Quí vị kỳ lão Nhà Lớn còn thấp một đôi đèn trên bàn thờ quay về hướng Đông của Lầu Trời. Sau khi hành lễ ở Nhà Lớn xong, hai họ về nhà trai. Trước bàn thờ ông trần và tổ tiên tại gia, cô dâu, chú rể lại tiếp tục hành lễ như đã nói ở hôn lễ bình thường. Sau đó hai họ cùng vào tiệc.

Hôn lễ hiệp hôn đàng gái : Đúng như tên gọi của nó, chỉ diễn ra ở bên nhà gái và cô dâu chủ rể chỉ hành lễ một lần dưới sự hướng dẫn của ông sui gái. Nghi thức hành lễ của cô đâu chú rể trước các bàn thờ và đối với quý vị kỳ lão Nhà Lớn, những người khách được mời cũng giống như đã nói ở trên. Việc tổ chức hôn lễ Hiệp hôn đàng gái chỉ xảy ra khi đôi vợ chồng trẻ có tuổi xung khắc, không hợp nhau. Hôn lễ không có đưa dâu. Chàng rể đưa cô dâu về vào cuối ngày cưới hoặc ở lại nhà vợ vài ba ngày sau mới đưa vợ về nhà mình.

- Lễ Phản bái : tức là lễ trở lại của nhà trai sau lễ cưới hai hôm. Việc chuẩn bị cỗ bàn để hành lễ và đãi nhà trai đều do nhà gái thực hiện. Sau khi đoàn nhà trai tới, nhà gá dọn các lễ vật lên bàn thờ, Đôi vợ chồng trẻ hành lễ ; Nghi thức như trong lễ hỏi và lễ cưới. Kỉnh xong, mọi người hạ đồ lễ xuống cùng ăn và trò chuyện: Hiện nay lễ phản bái không có mấy gia đình thực hiện. Nhưng theo suy nghĩ riêng của chúng tôi.đây là một nét đẹp.

Nhìn chung, Hôn lễ của những người tin theo ông Trần chỉ chặt chẽ trong việc hành lễ, cầu mong sự chứng giám và che chở, phù hộ của bề trên, không thách cưới và yêu cầu sính lễ. Hôn lễ tiến hành đơn giản, nhẹ nhàng. Và, đặc biệt có hai hình thức hôn lễ Phụ Ngọ và hôn lễ hiệp hôn đàng gái khác biệt với lệ tục cưới hỏi cổ truyền của người Việt...

TANG MA :

Lễ tục này thực hiện theo những quy định do ông Trần đặt ra. Vì vậy, có nhiều điểm hết sức đặc biệt. Từ ngày ông Trần qua đời đến nay, lễ tang ma của Nhà Lớn Long Sơn vẫn được giữ nguyên, hầu như không mấy thay đổi.

Ba Quan - Quan tài dùng cho người quá cố

Khi trong nhà có người qua đời, người thân phải vào Nhà Lớn cúng lễ ông Trần, xin ông phù hộ cho linh hồn người quá cố sớm siêu thoát, thông báo với các vị kỳ lão và xin họ thỉnh Ba quan về liệm người quá cố. Ba quan là một cái quan tài giả, gồm có hai phần. Phần dưới lả một tấm ván gỗ, dài gần 2m, rộng chừng 0,45m, gọi là "Liệt". Phần trên như cái áo quan, được đan bằng tre (do đó không có góc cạnh như quan tài gỗ), tương tự và được gọi là "lồng". "Lồng" được phủ sơn đỏ, hai đầu vẽ những bông sen vàng. Có thể hình dung "liệt" dùng để đặt xác chết, còn "lồng" dùng để che xác chết. Ba quan là quan tài tạm, dùng chung cho người chết trong họ đạo. Theo ông Trần : "sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng quách" - Lúc sống thì mọi người cùng làm việc, ngủ chung, ăn chung, do vậy đến khi chết cũng phải dùng chung một cái Ba quan... 

 

Người ta tắm rửa sạch sẽ và mặc quần áo mới cho người chết. Sau khi thân nhân nhìn mặt lần cuối xong, người ta liệm xác chết bằng hai lớp. Bên trong là một lớp vải, có dây buộc, gọi là võng nội. Bên ngoài là một lớp nệm cói cũng có dây vải để buộc lại, gọi là võng ngoại (l). Xác chết được đặt lên tấm "liệt", dùng "lồng" đậy lại. Ba quan được quàn trước nhà, đầu quay ra ngoài. Phía trước có một bàn vong, trên để đồ cúng (lư hương, bình hoa, ba chén cơm, ba chung nước...). Người nhà xin các vị kỳ lão nhà Lớn làm lễ Thành phục. Khăn tang của những người thân người quá cố đều giống nhau : một miếng vải trắng dài, quấn quanh đầu (không mặc áo tang trắng). Họ hành lễ trước bàn vong người chết, mỗi người lạy hai lạy tuần tự từ lớn đến nhỏ tuổi. Sau đó đến những vị kỳ lão và những người đến viếng hành lễ. Người đến viếng, điếu trà, nhang, rượu, đèn, giấy vàng bạc, trái cây... Họ muốn hành lễ ở trước bàn vong phải rót rượu trình quí vị kỳ lão và chủ tang lễ, sau đó lạy hai lạy vĩnh biệt người vừa chết.

_____________

(1)Trước đây ngoài lớp nệm cói, người ta còn hẹp quanh xác, nữ 9 thanh tre và xác nam 7 thanh tre.

Trước khi di quan, gia chủ rót rượu trình quý vị kỳ lão Nhà Lớn xin phép được cất táng. Cúng vật trên bàn vong được thay mới. Con cháu, thân nhân lạy hai lạy trước bàn vong. Người ta dùng hai cái đòn tre (cùng bộ với Ba quan) để khiêng người chết. Nếu người quá cố là vị kỳ lão trong Nhà Lớn thì được dùng hai chiếc đòn gỗ, hai đầu có chạm đầu rồng. Đi sau Ba quan là con trưởng nam hoặc cháu đích tôn, tay bưng khay, trên có bình rượu, ba cái chung và lư hương. Theo sau là những người đưa tiễn không có kèn trống, cờ lễ...

Khi tới huyệt (đã được đào trước), người ta gỡ "lồng" ra. Đáy huyệt được trải lá buông, hay lá dừa hoặc đệm cói, chiếu (1). Ở bốn góc huyệt có bốn ngọn nến, gọi là đèn chiếu huyệt. Thân nhân người quá cố lạy mỗi người hai lạy. Sau đó xả tang ngay tại huyệt. Tang được bỏ xuống bên cạnh xác người quá cố. Người ta dùng những thứ tương tự như đã lót dưới đáy huyệt phủ lên xác người chết. Sau đó lấp đất lại. Mọi người đưa tiễn bỏ xuống mộ một nắm đất. Mộ được đắp thành nấm, không dựng bia, khác chữ. Bàn vong được đưa về nhà thờ. Ba quan lại đưa về Nhà Lớn để những người sau dùng.

_____________

(1)Trước đây, người ta dùng bốn tàu lá buông hoặc lá dừa cho nam và năm tàu cho nữ.

Ba ngày sau khi chôn, thân nhân làm lễ mở cửa mả ở nhà. Cúng lễ đơn giản, gồm bánh ngọt, trái cây, hương hoa, đất giấy vàng bạc. Từ đó trở đi người ta chỉ cúng lễ 100 ngày và tổ chức ngày giỗ tưởng niệm hàng năm như lệ thường chứ không làm lễ 50 ngày, lễ hai năm, lễ đoạn tang như tục lệ người Việt.

Tang lễ của những người theo ông Trần ở Long Sơn thật đơn giản, không rườm rà, không gây tốn kém và có nhiều điểm tiến bộ. Nhà có người quá cố không làm cỗ đãi khách đến viếng ; Xác chết không quan tại nhà quá 24 giờ (nếu chết buổi sáng thì buổi chiều đưa đi chôn, nếu chết buổi chiều hoặc buổi tối thì chôn vào sáng ngày hôm sau). Không cần chọn giờ làm lễ nhập quan, di quan v.v... Về quy định không dùng quan tài, xác chết chỉ chôn không trong đất, tương truyền được ông Trần giải thích như sau : con người sinh ra và lớn lên nhờ đất, nước, không khí... đến lúc người ta chết đi cũng phải trả về với đất, nước... Việc chôn cất như vậy là để mau tiêu hủy, chóng siêu thoát, ít tốn kém vô ích và bảo đảm vệ sinh công cộng. Tục xả tang tại huyệt cũng được giải thích là không gây ưu phiền và tốn kém cho người còn sống...

Như vậy, so với phong tục tang ma cổ truyền hiện đang lưu giữ ở nhiều nơi, tang ma của những người thuộc Nhà Lớn Long Sơn có nhiều điểm khác biệt cơ bản. Điều đó phần nào chứng tỏ vai trò to lớn của ông Trần trong đời sống văn hóa, tinh thần của cư dân ở đây.  

TRANG PHỤC :

Nét đặc biệt trong trang phục của những người theo ông Trần ở Nhà Lớn Long Sơn là giữ được trang phục cổ truyền của người Việt Nam bộ. Hầu hết đàn ông trên 40 tuổi đều mặc áo quần bà ba đen, đi chân đất (1). Đầu để tóc dài và bới lên ở phía sau gáy. Lúc đi đâu hoặc lao động thì đùng khăn để quấn. Sinh thời ông Trần cũng trang phục tế tự như vậy ông cho rằng : "Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất khả hủy thương", có nghĩa là thân thể mình và da tóc mình: là chịu của cha mẹ để cho, không nên phá hoại (theo Hiếu kinh). Điều đó đã có sức thuyết phục những người đàn ông ở đây giữ mãi trang phục cổ truyền. Vào những ngày lễ long trọng của. Nhà Lớn, đàn ông đều mặc áo dài đen, vận khăn đóng và đi chân đất để hành lễ.

Trang phục của phụ nữ, nếu có điểm đặc biệt, thì đó chỉ là áo quần bà ba đen hay vải màu tối được may cùng kiểu.

Trang phục của những người theo ông Trần cũng là một biểu hiện bình dị, mộc mạc trong cuộc sống của cư dân ở đây...

Nhiều người cho rằng với quan niệm sống mới ngày nay, và mai kia, một khi chiếc cầu nối liền Long Sơn với Vũng Tàu, vốn là một thành phố du lịch sôi động, luôn hướng ra bên ngoài, được bắc xong thì trang phục truyền thống cũng như những lễ tục khác ở Nhà Lớn Long Sơn sẽ đứng trước những thử thách lớn. Có lẽ điều đó còn phải chờ thời gian... Nhưng cũng phải biết rằng Lễ Tục Nhà Lớn Long Sơn đã tồn tại qua nhiều biến cố, đổi thay của lịch sử. Và, dường như người ta càng chú ý hơn đến Long Sơn sau những thời điểm ấy. Đó là vì Long Sơn vẫn giữ được nét độc đáo, riêng vậy...

_____________

(1)Thực ra đây là kiểu trang phục được du nhập từ ngoài vào Nam bộ quãng đầu thế kỷ XIX. Áo quần bà ba đen vốn là trang phục của người Hoa lai Mã Lai, còn gọi là người Bà Ba, cư trú trên đảo Pi-năng. Nói trang phục bà ba đen là cổ truyền của Nam bộ thì chỉ đúng từ thế kỷ XIX và chỉ đúng với những người lao động, bình dân ...