THÀNH PHỐ BÀ RỊA THÀNH PHỐ BÀ RỊA

Di tích lịch sử Di tích lịch sử

Di tích Đình Thần Long Hương

DI TÍCH ĐÌNH THẦN LONG HƯƠNG

 

I. TÊN GỌI DI TÍCH:

- Tên gọi trước năm 1852: Đình thần Phước An, Tổng An Phú Tân.

- Tên gọi sau 1852 đến trước năm 1945: Đình thần thôn Phước An, Tổng An Phú Tân.

- Tên gọi sau năm 1975 đến nay: ĐÌNH THẦN LONG HƯƠNG, Phường Long Hương, thị xã Bà Rịa, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

II. VỊ TRÍ TỌA LẠC

Đình thần Long Hương tọa lạc trên một gò đất nằm ở phía Đông Nam xã Long Hương, nay thuộc ấp Hương Điền, xã Long Hương, thị xã Bà Rịa, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Phía Đông giáp sông Dinh.

- Phía Tây giáp quốc lộ 51.

- Phía Nam giáp sông Dinh.

- Phía Bắc giáp núi Dinh.

III. ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH

Từ thành phố Vũng Tàu ngược theo quốc lộ 51 đến km 65 rẽ vào Trung tâm hành chính thị xã Bà Rịa đi qua di tích lịch sử văn hóa Nhà Tròn qua cầu Long Hương đến trước trụ sở Ủy ban nhân dân phường Long Hương rẽ phải theo con đường cấp phối vào khoảng 600m là đến di tích. Hoặc từ thành phố Biên Hòa theo quốc lộ 51 đến km 64, rẽ trái vào ngã ba Long Hương đến trước trụ sở Ủy ban nhân dân phường Long Hương rẽ trái theo con đường cấp phối vào khoảng 600m là đến di tích.

Đến với di tích Đình Thần Long Hương chỉ đi được bằng đường bộ, không có đường thủy và đường không.

IV. SỰ KIỆN – NHÂN VẬT LỊCH SỬ

Đình làng Phước An, Tổng An Phú Tân nay là Đình Thần xã Long Hương được khởi dựng 1850 để thờ "Thần Hoàng Bổn Cảnh" và là nơi hội họp của dân làng để bàn công việc làng. Đình làng Long Hương được triều Nguyễn phong một sắc thần với chức sắc "Đại Nguyên Soái Thủy Lục Binh Quân Đại Nguyên Soái" niên hiệu Tự Đức thứ 5 tháng 11 ngày 29.

Theo nhiều cụ kỳ lão xã Long Hương kể rằng "…Ngày xưa cư dân ở đây thưa thớt, đất rộng, cây cối, cỏ dại mọc um tùm có rất nhiều loại động vật hoang dã sinh sống trong đó có những loại thú dữ như gấu, chó sói, cọp, lợn lòi… Cuộc đời của người dân lam lũ, cực nhọc, nắng mưa tần tảo mà vẫn thiếu ăn, rách nát, đói khát quanh năm, họ sống chủ yếu dựa vào nghề nương rẫy và một ít cư dân làm nghề đánh bắt hải sản trông vào trời, đất phù giúp, trợ cứu hàng ngày. Đình làng Phước An (nay là Đình Thần Long Hương) ra đời trong bối cảnh dân làng thiếu thốn cực khổ đủ điều. Họ tự dựng bằng cây, tre, nứa, mái lợp lá. Đến năm 1852 niên hiệu Tự Đức thứ 5 có ban "sắc thần" cho làng từ đó dân làng quy tụ ngày một đông hơn, thời tiết bớt khắc nghiệt, đời sống ngày một khá, ngành nghề phát triển ngày một phong phú. Người dân nhận thấy linh hiẻn của sắc thần có "Hiền Thánh" nên mọi người chỉ được trông vào "thần" ai làm điều gì sai thì thần quở trách. Vì vậy có nhiều người suốt cả đời mình vì kính nể không dám nhìn vào sắc thần sợ phạm thượng".

Những năm đầu thế kỷ XX Đình Thần Long Hương được cất lại gồm nhiều nhà vuông bằng gỗ liên kết với nhau theo kiểu dáng chữ "Tam". Tường bao xung quanh bằng chất liệu xi măng, đá xanh, mật mía, mái lợp ngói âm dương, nền lát gạch tàu. Nguồn kinh phí xây dựng do dân làng đóng góp.

Năm 1925 ông Tô Tấn Hợi và các con Tô Thị Kính, Tô Xích Phụng đã ủng hộ Đình một số tiền lớn để tu bổ, sơn phết, xây cất, trang trí lại hoàn chỉnh ngôi Chánh Điện, ngôi Tiền Hiền, Hậu Hiền.

Năm 1940 hai an hem Võ Văn Ngọ, Võ Văn Du cùng ông Lê Văn Tám ủng hộ tiền, của sửa sang lại nhà sân khấu, võ ca và một số công trình phụ khác.

Đầu năm 1946 Đình Thần Long Hương bị đốt cháy với mục đích để tiêu thủ kháng chiến nhưng sau đó lửa tự tắt chỉ cháy mất một số kiến trúc bằng gỗ và hiện vật trong đình. Dấu tích bị cháy hiện còn ở tấm Liển và bàn thờ Thần trong Chánh Điện.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp Đình Thần Long Hương là nơi che chở, nuôi giấu các cán bộ hoạt động cách mạng như đồng chí Phạm Văn Công, Lê Văn Trương, Trần Văn Sáu (Sáu dái). Khuôn viên Đình có nhiều cây Dầu cổ thụ cao lớn được lực lượng du kích tận dụng làm nơi quan sát, canh gác kẻ địch từ nhiều phía tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ hoạt động, gây dựng cơ sở cách mạng, chủ động tiến công kẻ địch. Trong thời kỳ đầu của cuộc đấu tranh chống Mỹ - Ngụy thôn Hương Điền, Hương Sơn xã Long Hương là nơi có vị trí chiến lược quan trọng nên Mỹ - Ngụy đã dùng mọi âm mưu, thủ đoạn tìm mọi cách để thực hiện chính sách dồn dân, lập ấp chiến lược, thời gian này Đình nằm trong ấp chiến lược nên không được xây dựng, sửa sang gì thêm.

Sau năm 1975, Đình Thần Long Hương được sửa sang lại một số hạng mục nhỏ không đáng kể. Tổng thể các kiến trúc xây dựng của Đình bị xuống cấp trầm trọng, đang cần sự quan tâm của các ngành, các cấp, các đoàn thể và nhân dân đóng góp để trùng tu, tôn tạo di tích Đình Thần Long Hương.

V. MIÊU TẢ DI TÍCH LỊCH SỬ

Đình Thần Long Hương có tổng diện tích là: 1971m2 (2) bao gồm cổng đình, sân khấu võ ca, Chánh điện, tiền hiền, hậu hiền, nhà bếp. Hai bên đình thần: Bên phải là miếu thờ Bạch Mã thái giám; bên trái là miếu thờ bà Thiên Hậu và nhà đãi khách, nhà kho.

1. Kiến trúc xây dựng:

- Cổng đình:

Ngày xưa Đình Thần Long Hương không có cổng. Năm 1992 cổng Đình mới được xây dựng bằng chất liệu bê tông cốt thép(2) Chỉ có một cửa chính đi vào cao 3,2m, rộng 4m. Mặt trên chính diện của cổng trang trí "Lưỡng Long Tranh Châu" chất liệu bằng sành sứ, hai bên trụ có hai câu đối: Trụ bên tả có câu "MÔN TĨNH BIẾN ĐỨC HẠNH VẠN PHƯƠNG". Trụ bên hữu có câu "QUÂN THẦN LINH CHÂU LỤC GIÁP", phía trước cổng có chiếc cầu nhỏ bằng bê tông bắc qua rạch con sông Dinh. Phía sau cổng cách 30m là sân khấu võ ca.

Sân khấu ca:

Có diện tích (25x28)m trong đó sân khấu chiếm (7x18)m được đôn cao hơn hậu trường 40cm. Hai bên cách gà có các bậc tam cấp tạo chỗ ngồi xem văn nghệ cho các hương chức. Cột trụ làm bằng loại gỗ tốt có vòng tròn 100cm: kèo, trính, xiên, xà gồ bằng gỗ liên kết với nhau bằng hệ thống mộng mẹo, mái lợp ngói âm dương. Ngày xưa nhà sân khấu võ ca không có tường bao xung quanh để thông thoáng, mát mẻ. Năm 1925 nhà sân khấu võ ca được xây tường bằng đá ong dày 40cm, có 4 cửa ra vào, mỗi cửa cao 2,4m rộng 1,4m được chia đều cho hai bên. Nền sân khấu võ ca được tráng xi măng.

Sân khấu võ ca được nối thông với chánh điện gồm 3 cửa lớn, mỗi cửa cao 2,6m, rộng 2,2m, trước đây làm bằng từng cánh gỗ gập lại(3). Đến năm 1992 được thay bằng cửa sắt kéo.

Chánh điện:

Có diện tích (11,5x10,5)m gồm ba gian hai chái. Gian giữa thờ "THẦN HOÀNG BỔN CẢNH" diện tích (3,0x10,5)m; gian tả và hữu mỗi gian có diện tích (2,4m x 10,5m); còn hai chái mỗi chái có diện tích (1,8m x 10,5m). Cột trụ có vòng tròn trên 100m; cột, trính, xiên, xà làm bằng các loại gỗ tốt, kết cấu, liên kết với nhau bằng mộng mẹo, xà gồ, rui, mè bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương. Tường xây xung quanh bằng đá xám xanh dày 40cm, hai bên hông có 2 cửa ra vào làm bằng gỗ rộng, mỗi cửa 1,4m, cao 2,4m, nền lót gạch tàu màu gụ kích thước (30 x 30)cm.

Chánh điện thông với Tiền hiền, Hậu hiền là hành lang hai bên, mỗi bên rộng 1,2m. Tiền hiền, Hậu hiền có diện tích (11,5 x 7,2)m, gồm 5 gian, ba gian giữa có diện tích bằng nhau (3,0 x 7,2)m, hai gian còn lại ở bên, mỗi gian có diện tích (1,5 x 7,2)m. Cột trụ có vòng tròn 100cm: cột, kèo, xiên, trính, xà làm bằng các loại gỗ tốt, kết cấu, liên kết với nhau bằng mộng, rui, mè, xà gồ bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương. Nền lót gạch tàu màu gụ kích thước (30 x 30)cm. Ở hai bên bàn thờ Tiền hiền , Hậu hiền có hai bộ Livang dung cho các quan chức lớn khi tới dự lễ nghỉ ngơi, kích thước mỗi bộ là (2,8 x 2,2)m.

Cách Tiền hiền, Hậu hiền về phía sau 3 m là nhà bếp. Nhà bếp có diện tích (7,0 x 7,0)m, gồm một căn hai chái. Cột trụ bằng gỗ hình vuông mỗi cạnh 25cm. Cột, kèo, xiên, xà bằng gỗ lắp ráp với nhau bằng mộng, rui, mè, xà gồ bằng gỗ. Mái lợp ngói moóc (15 x 20)cm đít bằng. Nền tráng xi măng xung quanh không xây tường bao, để trống thoáng mát.

Cách Chánh điện 5m về phía tả là miếu thờ "Bạch Mã Thái Giám". Miếu Bạch Mã Thái Giám có diện tích (4 x 2,5)m, xàgồ, rui, mè bằng gỗ mái lợp ngói moóc cỡ (15 x 20)cm đít bằng, tường xung quanh xây gạch, có một cửa ra vào cao (2,2 x 1,2)m bằng gỗ. Nền tráng xi măng.

Cách Chánh điện 4m về phía hữu là miếu thờ bà Thiên Hậu và Năm bà Ngũ hành cùng dãy nhà đãi khách, nhà kho.

Miếu thờ Bà Thiên hậu và Năm Bà Ngũ hành có diện tích (4 x 4)m, xà gồ bằng gỗ, mái lợp tôn kẽm, tường xung quanh xây gạch, có cửa ra vào hai cánh bằng gỗ cao 2,2m, rộng 1,4m. Nền tráng xi măng. Hai bên tả và hữu của Miếu là hai dãy hành lang mái lợp tôn kẽm dùng để làm nơi tiếp khách, không có tường xây để thoáng mát. Diện tích mỗi bên là (10 x 4)m.

Tiếp nối Miếu Bà Thiên Hậu là nhà Đãi chung. Có diện tích (16 x 2)m, xà gồ bằng gỗ, mái lợp tôn kẽm không có tường xây, để thoáng đãng, nền tráng xi măng.

Kế tiếp nhà Đãi chung là 2 phòng kho, mỗi phòng có diện tích (8 x 6)m, xà gồ bằng gỗ, mãi lợp tôn kẽm. Tường xung quanh xây gạch, mỗi phòng có một cửa ra vào cao 2,4m, rộng 1,4m. Nền tráng xi măng.

2. Kiến trúc bài trí:

Đình Thần Long Hương tọa lạc trên một gò đất cao ráo có phong cảnh đẹp nới có lạch con sông Dinh chảy qua. Đình được trồng nhiều loại cây như dầu, sao,…là những loại cây cho bóng mát quanh năm, đó là quan điểm "huyền vũ" của quan niệm phong thủy. Đình được xây dựng theo kiểu dáng "chữ tam", lưng dựa vào núi Dinh, mặt hướng về sông Dinh. Đình Thần Long Hương ngày xưa lợp lá không có tường bao quanh. Ngoài ngôi Chánh điện, sân khấu võ ca, chỉ có thêm một vài căn nhà bán kiên cố.

Đến đầu thế kỷ XX Đình Thần Long Hương được sửa chữa, xây dựng thành quần thể nhiều nhà vuông, mỗi ngôi có 4 cột cái có vòng tròn trên 100cm, trên các cột có trạm trổ hình rồng nên dân làng ở đây gọi là "Long trụ", các ngôi có diện tích mở rộng ra bốn phía bằng bộ kèo đâm, kèo quyết đều nhau, phần đuôi các bộ kèo có chạm trổ hình rồng lúc ẩn lúc hiện gọi là "Long ẩn". Đình muồn có diện tích bên trong rộng rãi nên đã ghép những ngôi nhà liền nhau theo kiểu "Trùng thiềm điệp ốc". Mái đình lợp ngói âm dương. Nóc đình được gắn những hình "LƯỠNG LONG TRANH CHÂU", "CÁ HÓA LONG", "ÔNG MẶT TRỜI", và "BÀ MẶT TRĂNG" bằng sứ tráng men. Các đồ vật trang trí ở nóc đình tượng trưng cho âm dương hòa hợp, sung túc, no đủ và thiêng liêng.

Theo một số cụ lão làng cho biết: Ngày xưa từ chiếc cầu gỗ bắc qua lạch con sông Dinh để vào Đình làng cách chừng 20m, giữa sân có bệ xây bằng gạch gọi là "Đàn Xã Tắc" tức là "Thần Nông" được người dân nơi đây tôn thờ và kính trọng vì sơn hà luôn gắn liền với xã tắc. Tục lệ thờ "Thổ Thần", "Thần Nông" luôn gắn liền với nông nghiệp, nên đằng sau đàn xã tắc có vẽ rồng vờn cọp, tượng trưng cho âm dương hòa hợp, mưa thuận gió hòa. Từ năm 1925 bức tranh rồng vờn cọp được thay thế bằng tranh một chúa sơn lâm từ trên núi xuống rất oai vệ. Hiện nay có miếu thờ chúa sơn lâm, trong miếu có bức tranh Ông Hổ khỏe mạnh. Phía sau đàn xã tắc là nhà võ ca sân khấu. Ngày trước là nhà tứ trụ, không dựng vách, trống trải, không cửa. Đây là nơi để diễn đàn hát bội và làm các nghi thức cúng thần. Vì vậy khu vực sân khấu võ ca được trang trí đẹp đẽ, có nhiều hoành phi, câu đối trang trí liên quan đến nghệ thuật sân khấu mang nhiều nội dung phóng khoáng.

Kế tiếp sân khấu võ ca là ngôi Chánh điện. Ngôi Chánh điện được chia làm 3 gian, gian giữa có diện tích lớn hơn gian kế bên. Chánh điện được mở cửa khi có hội hè, còn những ngày thường vào thap71 nhang chỉ mở cánh cửa hông. Ngôi Chánh điện được trang trí lộng lẫy, trang nghiêm nhiều hoành phi câu đối ca tụng thuần phong mỹ tục "Gặp đời thuận trị dẫu bốn phương hỗn tạp cũng hòa đồng". Đề tài trang trí tứ linh, cá hóa long, long hổ, bát tiên, tứ quý, mây, hạc, long trụ, long ẩn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc đồ sộ, sinh động. Giữa Chánh điện có một hương án chạm trổ tinh xảo, sơn son thiếp vàng, rực rỡ. Phía sau có bàn thờ lớn là nơi thờ chung các vị thần linh. Hai bên hương án có đôi hạc đừng trên lưng Quy cao lớn cạnh có bày la liệt lọng, tàn, lỗ bộ. Sát vách Hậu hiền là bàn thờ chính thờ thần "CHỮ THẦN". Trên bàn thờ chính ngoài các tự khí thông thường đặc biệt còn có một cổ ngai bày 3 chiếc mũ thờ. Hai bên bàn thờ chính còn có bốn bàn thờ: tả ban, hữu ban nơi thờ các vị thần linh cận vệ "Thần Thành Hoàng".

Tiền hiền, Hậu hiền là nơi thờ những người có công qui dân, lập ấp và những người có công xây dựng kiến thiết những công trình đặc biệt trong làng, các câu đối, hoành phi trang trí tại Tiền hiền, Hậu hiền đều thể hiện nội dung "uống nước nhớ nguồn". Hiện nay Đình Thần Long Hương có hương án thờ 51 anh hung liệt sĩ. Chiến sĩ trận vong được đặt ngay ngôi Tiền hiền trong đó có 28 liệt sĩ thời kỳ chống Pháp, 23 liệt sĩ thời kỳ chống Mỹ đã anh dũng hy sinh trong các năm (1960 - 1962), số liệt sĩ hy sinh từ năm 1963 trở về sau đình chưa quy tập về. Đây là một việc làm đền ơn, đầy ý nghĩa để ghi nhớ công ơn những người đã bỏ mình cho tổ quốc.

3. Nghi lễ - Hội hè:

Tại Đình Thần Long Hương mỗi năm có 4 lệ cúng:

- Lễ cúng Bầu Ông được tổ chức vào ngày 10 tháng giêng hàng năm.

- Lễ cúng Miếu Bà Thiên Hậu và Ngũ Hành vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm.

- Lễ cúng Tiền hiền nhằm vào ngày 11 tháng 5 âm lịch hàng năm.

- Lễ cầu an nhằm 03 ngày 15,16,17 tháng 11 âm lịch hàng năm. Đây là lễ cúng lớn nhất tại Đình, ngoài phần lễ Ban tế tự còn tổ chức phần hội.

- Lễ thỉnh sắc thần được tổ chức long trọng, trang nghiêm, sắc rước từ công sở của làng về Đình, lễ xông sắc đưa lên kiệu sau đó kiểm tra lại các đồ vật, lễ thỉnh rồi mới được đi kiệu. Trên đường di kiệu từ công sở về Đình dân làng hai bên đường đều lập bàn hương án chào thần. Ngày trước dân làng còn tổ chức đốt pháo chào mừng "Thần" từ công sở về tới Đình.

Đêm rằm tất cả tập thể Ban tế tự, hương chức và dân làng đều có mặt đông đủ để hưởng trọn đêm cầu lễ thần – ban hát, nhạc, ăn chay, niệm Thần cầu nguyện mưa thuận, gió hòa, mùa màng được tốt, bội thu, con cháu đoàn tụ sum vầy.

Trong nghi thức cúng: cũng như cổ xưa, tế thần phải có vật "tế sính" Đình Thần Long Hương "tế sinh" bằng loại heo bạch, vì con heo bạch hiền lành vừa là bạn kinh tế của nhà nông. Người đâm heo đầu phải chít khăn mặc áo xanh đen dài, sau khi dùng huyết và đầu heo làm lễ tế thần, huyết, lòng heo được dùng nấu cháo cho các vị hương chức cùng ăn thay cho tục "uống máu ăn thề". Trong đợt lễ hội các chức sắc làng có vai trò quan trọng. Lễ hội diễn ra 3 ngày. Ngày đầu thường có nội dung chính là tế, còn hai ngày sau kết hợp với tế lễ là các hoạt động văn nghệ, thể thao truyền thống.

Trong lễ chính, nghi lễ dâng 3 tuần rượu với lễ sinh đi lên đi xuống thường kéo dài hơn 1 giờ. Trước lúc vào lễ các thành viên Ban tế lễ đến sớm, mặc áo lễ, khăn đen mở đầu bằng hình thức rất "đời" Ban tế lễ đứng trước quan khách và bá tánh để nghe trưởng lễ đọc lời thưa gửi Thánh Thần, kính báo trời đất về lòng tôn kính của con cháu. Một khay rượu phủ vải đỏ đặt trên bàn thờ nhỏ trước quan khách, sau lời khai mạc quý tế mở vải rót rượu mời quan khách uống cạn để cảm tạ.

Vào lễ chính công việc đầu tiên là các thành viên tế lễ đến đúng vị trí đã quy định và giữ yên lặng, các vị chánh, phó tế đến trước bàn nghi, cử soát tế phẩm. Hai lễ sinh cầm nến đi trước, người của ban lễ tự đi sau đến xá từng bàn thờ chính, bàn thờ phụ, kiểm những món đồ cúng xem còn thiếu gì không. Đây là nghi thức tượng trưng, mặc dù tốn thời gian nhưng không được làm chiếu lệ. Vì nếu đồ cúng không được làm chu đáo sẽ có tội với các vị thần linh, tiên liệt. Công việc thứ 2, các vị trong ban tế đến trước thau nước đã được bố trí sẵn lần lượt rửa tay, rửa mặt tượng trưng, sửa lại khăn áo ngay ngắn rồi đến các bàn thờ thắp nhang dâng rượu. Chánh tế khấn vái thần thánh, đọc bài văn tế ca ngợi công đức của các vị thần linh, tiên liệt; truyền thống quê hương, báo cáo thành quả lao động, học hành của dân làng. Nói lời cầu mong thánh thần phù hộ…Sau đọc lời văn tế dâng rượu đến tuần rượu thứ hai, gọi là "Á hiến". Tiếp đến là dâng tuần rượu thứ ba gọi là "chung hiến" .

Sau khi dang tuần rượu thứ ba là lễ dâng bánh, dâng trà. Mục chót là "ẩm phước" các vị chánh, phó cùng Ban tế tự uống rượu đã cúng trên bàn, ăn tượng trưng, và trái cây gọi là hưởng phước Thần ban, rồi chánh phó đốt văn tế. Trưởng ban tổ chức công bố lễ thành, các lễ sinh lạy tạ thần linh.

Trong tế lễ tại Đình Thần Long Hương có các cô đào mặc áo quần như những cung phi thời xưa đi theo lễ sinh và hát những bài hát khen rượu, trà ngon khi dâng rượu dâng trà. Động tác dâng 3 tuần rượu đời hỏi sự nghiêm túc của từng bước đi, từng động tác cùng với cách ăn mặc nghiêm trang sặc sỡ của lễ sinh để biểu hiện rõ nét đẹp mỹ tục thuần phong.

Trong tế lễ phần nhạc lễ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tiếng nhạc làm cho phần lễ linh ứng, thấu gọi hồn thiêng sông núi. Tiếng trống có vai trò chỉ huy nên người đánh trống phải được chọn lựa kỹ, phải là khỏe mạnh, không mang tiếng về hạnh kiểm. Ngày trước người được tuyển chọn đánh trống phải ăn chay cả tuần trước khi vào lễ để giữ trọn trong sạch, tiếng trống mới linh. Mở đầu lễ tế đánh ba hồi trống để báo động âm dương, thưa với thánh thần "trừ hung ác sát", "khôn trung hội viên nam nữ đồng thọ phước". Cứ như vậy tiếng trống hòa nhịp với tiếng chiêng (phèn la) làm nhiệm vụ chỉ huy hướng dẫn tất cả mọi động tác tế lễ cũng như các cuộc vui chơi trong suốt lễ hội.

Sau tế lễ chính các quan viên bá tánh cùng thưởng lãm nghệ thuật truyền thống bằng các màn trình diễn hát bội ca ngợi, chúc tụng trời đất đổi mới tươi vui, mừng đồng bào, quan viên an khang, hưởng thái bình thực hiện công bằng xã hội.

Lễ Đình Thần Long Hương ngoài những thú vui chơi, văn nghệ còn là một nhu cầu hướng con người vào tâm thánh thiện. Trên bước đường đi tới ấm no hạnh phúc, non nước thanh bình

VI. CÁC HIỆN VẬT TRONG DI TÍCH

Hiện tại Đình Thần Long Hương còn lưu giữ một số hiện vật sau:

STT

Tên hiện vật

Chất liệu

Số lượng

Kích thước

1

Sắc thần (29/11/Tự Đức thứ 5 (1852))

Vải

01

 

2

Hoành phi

Gỗ

12

(1,2 x 0,4)

3

Câu đối

Gỗ

04

(2,5 x 0,4)

4

Liểu

Gỗ

04

(2,5 x 0,4)

5

Hạc loại lớn

Gỗ

01 cặp

(2,0)

6

Hạc loại nhỏ

Gỗ

01 cặp

(1,0)

7

Trống loại lớn gỗ moóc

Gỗ

01

(1,2 x f 62 cm)

8

Gỗ

01

(1,8 x f25)

9

Phèng la (chiêng)

Đồng

01

F60cm

10

Chuông

Đồng

01

F30cm

11

Bình bông

Sứ

06

F15cm

12

Bát nhang

Sứ

12

F15cm

13

Trống chầu loại nhỏ gỗ móc

Gỗ

01

(0,4x f40cm)

14

Lỗ bộ (binh khí)

Gỗ

02 bộ

(2m)

15

Kiệu thỉnh sắc có trạm trổ sơn son thiếp vàng

Gỗ

01 bộ

 

16

Lư hương

Đồng

08

(10cmx12cm)

17

Hạc loại nhỏ

Đồng

01

H=35cm

18

Tượng

Đồng

02

H=25cm

19

Chân đèn

Đồng

06

H=40cm

20

Hương án có trạm trổ

Gỗ

02

(1,0x1,4)x0,9

21

Cây cổ thụ

Gỗ

04

F=100cm trở lên

VII. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA

Quá trình qui dân cùng với sự hình thành và phát triển của nghề nghiệp, người dân Long Hương đã dần xây dựng nên một truyền thống tốt đẹp về luân lý đạo đức, trong mối quan hệ giữa con người và xã hội được thể hiện rõ trong sinh hoạt văn hóa lễ hội hàng năm tại Đình Thần Long Hương.

Đình Thần Long Hương là nơi để mọi người dân trong làng tổ chức Đại lễ cầu an; cầu cho quốc thái dân an mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu, con cháu đoàn tụ sum vầy. Là nơi mang những giá trị, biểu tượng của tâm linh nên Đình mãi mãi trường tồn trong dân gian.

Một số hiện vật trong Đình minh chứng cho một thời kỳ văn hóa, phát triển tồn tại ở Miền Đông Nam Bộ.

Sự sáng tạo trong sinh hoạt văn hóa, lễ hội như: vui chơi, giải trí, ca, hát,…là những nét văn hóa giản dị, độc đáo đậm đà bản sắc dân tộc. Lễ hội truyền thống đã ăn sâu vào máu thịt, được lưu truyền ngàn đời cho hôm nay và mai sau.

Đình Thần Long Hương là nơi hội tụ những nét văn hóa làng xã của Miền Đông Nam Bộ nói chung và Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng.

Những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ tinh xảo, đồ sộ được bài trí ở Đình Thần Long Hương là những đề tài nghiên cứu khoa học lý thú, bổ ích cho sự phát triển đi lên của xã hội trong hiện tại và tương lai.

VIII. LOẠI HÌNH DI TÍCH:

Đình Thần Long Hương thuộc loại di tích lịch sử - văn hóa

IX. TRẠNG THÁI BẢO QUẢN:

Đình Thần Long Hương từ khi hình thành đến nay do dân làng bảo quản sử dụng thông qua Ban tế tự được tập thể hương chức xã Long Hương bầu chọn do vị Chánh tế đứng đầu.

Đất đai trong khuôn viên của Đình có biến động theo các mốc thời gian mà chủ yếu là 3 mốc: Trước năm 1945, năm 1945 và sau 1975. Hiện nay khuôn viên của Đình có 34 hộ cư trú, trong đó có 8 hộ cư trú trước năm 1945, số còn lại là sau năm 1945 trở lại. Hiện nay một số dân mở liều quán bán nước giải khát, tiệm ăn uống, đặc biệt là mở đường đi cắt ngang giữa Tiền hiền, Chánh điện hậu hiền, nhà biếp với miếu bà Thiên hậu, nhà đãi chung và nhà kho.

Đình Thần Long Hương làm bằng chất liệu gỗ chủ yếu nên lâu ngày bị mối mọt, mục nát hiện nay nhà hậu hiền, nhà bếp bị xuống cấp trầm trọng, có nguy cơ sụp đổ, ngói lợp mục. Ngôi Chánh điện có hiện có 2 cột trụ bị mối mọt, hiện nay ban tế tự chống chế bằng cách dung cây xà gỗ cột cặp đỡ bên cạnh, mang tính tạm thời.

Nguồn kinh phí hạn hẹp nên việc trùng tu sửa chữa phục hồi lại một số cơ sở vật chất, hiện vật Đình chưa làm được. Theo Ban tế tự cho biết hiện nay chỉ có nguồn kinh phí do các hương chức Long Hương đang sinh sống ở nước ngoài gởi về trợ giúp, nhưng số tiền vẫn không đủ để sơn phết phía trong Chánh điện.

Trông coi, bảo vệ Đình có Từ Đình. Ông Từ Đình do Ban tế tự cử mỗi năm, được hưởng chế độ 30 thùng lúa do hương chức trong làng đóng góp lại.

X. PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ

Các cơ quan chức năng mà trực tiếp là Ngành Văn hóa Thông tin:

- Lập kế hoạch khoang vùng, phân định ranh giới.

- Xây dựng bia, biển bảo vệ.

- Tuyên truyền mọi người nâng cao trách nhiệm bảo vệ và phát huy tác dụng di tích.

- Vận động nhân dân tham gia đóng góp sức người, sức của để phục hồi lại một số hạng mục đã bị hư hỏng và tôn tạo thêm phần cảnh quan môi trường.

XI. CƠ SỞ PHÁP LÝ

Dựa vào luật di sản văn hóa công bố ngày 12 tháng 7 năm 2001 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nghị định hướng dẫn thi hành Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Căn cứ vào quy chế về bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh do các cấp có thẩm quyền ban hành.

XII. TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Truyền thống xã Long Hương

- Xóm làng Việt Nam

- Đình Nam Bộ

- Làng xã Việt Nam trước thế kỷ XIX

- Kiến trúc cổ Việt Nam

- Các cụ kỳ lão của làng:

+ Bùi Quang Mỹ

+ Võ Văn Dận

+ Phạm Minh Xuân

+ Nguyễn Văn Hai

+ Trần Hữu Phước

+ Nguyễn Văn Năm

+ Bùi Thế Tôn

Và một số cụ kỳ lão đang nằm trong Ban tế tự tại Đình Thần Long Hương và Quản trị Hội tự chùa Long Cốc xã Long Hương.